Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2008

Cuốn Xã hội Mở (Cải cách Chủ nghĩa tư bản Toàn cầu)



" Bạn đọc cầm trên tay cuốn sách thứ tám [1] của tủ sách SOS. Cuốn Xã hội Mở [Cải cách Chủ nghĩa tư bản Toàn cầu] của George Soros. Đây là cuốn thứ hai của Soros trong tủ sách. Ý kiến về Soros rất khác nhau. Có người lên án ông như kẻ thao túng thị trường chứng khoán, kẻ gây ra khủng hoảng tài chính, kẻ tham gia lật đổ. Nhiều người ca ngợi ông như một thiên tài tài chính, người làm từ thiện lớn nhất hành tinh. Ông cho mình là người duy nhất trên thế giới đi ngăn chặn khủng hoảng một cách có mục đích và có tổ chức. Cuốn sách này sẽ giúp bạn đọc hiểu kĩ hơn về ông và về các ý tưởng của ông. Người ta nói nhiều về hội nhập kinh tế về nền kinh tế toàn cầu. Cơ chế thị trường đã thành công xuất sắc trong giải phóng tài năng kinh doanh và tạo ra của cải. Chủ nghĩa tư bản dựa vào cơ chế thị trường. Nếu chỉ dựa vào cơ chế thị trường và nhấn mạnh thái quá đến các giá trị thị trường, chủ nghĩa tư bản không thể đảm bảo tự do, dân chủ, và pháp trị; có thể, và nó đã dẫn đến những thảm hoạ như hai cuộc Chiến tranh Thế giới, các cuộc khủng hoảng tài chính. Vì sao chúng xảy ra? Làm sao có thể tránh được những thảm hoạ như vậy, hay chí ít làm nhẹ bớt tác động tai hoạ của chúng? Đó là những vấn đề Soros quan tâm. Và xã hội mở là một xã hội có thể làm được điều đó. Khái niệm “Xã hội mở” được Henri Bergson dùng đầu tiên năm 1932, và Karl Popper phát triển và làm cho khái niệm được biết đến rộng rãi trong công trình triết học của ông xuất bản năm 1943. Soros chịu ảnh hưởng mạnh của Karl Popper. Cả trên lĩnh vực thực tiễn và triết lí ông không ngừng cổ vũ cho xã hội mở. Theo Bergson, xã hội được tổ chức theocác nguyên lí bộ lạc là xã hội đóng; xã hội được tổ chức theo các nguyên lí phổ quát là xã hội mở. Theo Popper, xã hội mở bị đe doạ bởi tất cả các hệ tư tưởng cho là mình có chân lí cuối cùng. Soros đồng ý. Các hệ tư tưởng bộ lạc không còn được coi là cơ sở để tổ chức xã hội hiện đại, và sau Chiến tranh Thế giới II và nhất là sau 1989, các hệ tư tưởng cho là mình có chân lí cuối cùng đã mất uy tín, chủ nghĩa tư bản hiện đại là biểu hiện bị méo mó về xã hội mở. Xã hội mở, theo Soros, dựa vào sự thừa nhận rằng chân lí cuối cùng là ngoài tầm với của con người, dựa vào tính có thể sai của con người, dựa vào sự thừa nhận là những kiến trúc do con người tạo ra nhất thiết có sai sót một cách cố hữu; nó là một xã hội dựa trên các nguyên lí phổ quát song không bao giờ hoàn hảo, luôn mở ra cho sự cải thiện. Ông phát hiện ra sự không đồng bộ giữa nền kinh tế toàn cầu và dàn xếp chính trị toàn cầu, sự tồn tại của các quốc gia có chủ quyền. Ông kiến nghị lập liên minh xã hội mở để thúc đẩy phát triển xã hội mở ở từng nước và đặt nền móng cho một xã hội mở toàn cầu. Cuốn sách có thể bổ ích cho các học giả, các nhà hoạch định chính sách, và tất cả những ai quan tâm đến những vấn đề chính trị và kinh tế thế giới."

Cuốn xã hội mở bác có thể tải tại đây

THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ




HUYỀN THOẠI TRƯƠNG LƯƠNG


Cách đây hai ngàn một trăm tám mươi năm, vua nhà Tần là Doanh Chính thống nhất Trung Quốc, tự hiệu là Tần Thủy Hoàng, ngụ ý muốn bảo cho người đời hay rằng giòng họ nhà ông sẽ đời đời cai trị Trung Quốc. Nhưng chưa trọn mười lăm năm và truyền nhau chưa hết hai đời thì nhà Tần đã bị lật đổ. Huyền thoại Trương Lương ra đời trong khung cảnh lịch sử này. Trương Lương là con cháu dòng dõi của nước Hàn (một trong sáu nước bị nhà Tần thôn tính.) Cha ông của Trương Lương đã năm đời làm tể tướng nước Hàn. Khi Hàn bị Tần diệt, Trương Lương liền đem hết sản nghiệp của mình đi tìm một thích khách để ám sát Tần Vương. Đến nước Triều Tiên làm Lương hải Quân, Trương Lương gặp một dũng sỹ với sức muôn người không địch, có thể múa đôi chùy nặng chừng năm trăm cân nhẹ như người thường cầm hai chiếc quạt.Trương Lương cùng người dũng sỹ liền về Bác Lãng Sa, đón Tần Thủy Hoàng đi săn ở đây mà giết. Kết quả quả chùy ngàn cân đã đập nát chiếc xe giá không có Tần Thủy Hoàng ngồi trong. Chết hụt, Tần Thủy Hoàng ra lệnh tầm nã Trương Lương. Khắp nơi mật vụ bủa lưới. Việc làm kinh thiên động địa kia khiến cho nhân dân khắp nơi tán tụng. Trương Lương còn trẻ lại làm việc động trời nên chỉ trong ít ngày Trương Lương đã trở thành một vị thiếu niên anh hùng, người của thần thọai trong đầu óc nhân dân. Nhưng trước mắt nhà chính trị, trước mắt những con người lão luyện giang hồ thì công việc ném chùy ở Bác Lãng Sa của Trương Lương chẳng qua chỉ là một hành vi vung kiếm vươn người lên mà quyết đấu của kẻ thất phu, chỉ là một thứ anh hùng chủ nghĩa cá nhân thóat ly quần chúng không có tổ chức. Với hành vi đó thật khó lòng mà lật đổ cả một bộ máy bạo ngược của nhà Tần, khó lòng đương nổi với cuộc cách mạng có trăm đầu ngàn mối. Tuy nhiên, họ cũng nhận là cái phẩm chất thanh niên của Trương Lương thật là đáng quý. Tấm lòng yêu chánh nghĩa nhiệt thành, lương tâm sáng rọi muốn cứu đời, cứu người là những chất liệu nếu đem rèn đúc với sự hiểu biết nữa thì phải thành thứ vũ khí đạp đổ bạo Tần. Trong số những nhà chính trị lão luyện ấy có một người tên là Hoàng Thạch Công. Hoàng Thạch Công nhận biết mình ở vào cái thế "thế thời bất ngã dữ, lực bất tòng tâm", khả năng mình chỉ là khả năng ẩn dật một nơi để chỉ đạo cách mạng, nhưng không thể trực tiếp tham gia cách mạng. Khát vọng của Hoàng Thạch Công là tìm được một anh tài trong thiên hạ để mà truyền thụ, để mà giáo dục. Khát vọng ấy cũng chẳng khác gì lúc Trương Lương mong tìm thấy người dũng sỹ. Lại nói về Trương Lương từ khi có lệnh tầm nã, chàng phải trốn tránh ngày đêm, mai danh ẩn tích, thay tên đổi họ để đi tuốt mãi xuống phía Nam. Tài lẩn tránh của Trương Lương thần diệu thật, nhưng tài ấy mới chỉ che nổi mắt đám mật vụ và nhất định không thóat nổi con mắt tinh đời của Hoàng Thạch Công. Từ lúc chàng đến Hạ Bì, mỗi lần có việc đi ngang qua chiếc cầu bên con sông nhà ở Hạ Bì, thì nơi đây có một ông lão ngồi câu cá, vuốt chòm râu bạc ngắm con người tài hoa công tử Trương Lương. Ông lão gật gù thiết lập kế họach đầu tiên đối với Trương Lương là bẻ gẫy tâm lý kiêu ngạo của chàng, có hết kiêu ngạo mà ân cần học hỏi thì Trương Lương mới trở nên hữu dụng. Sẩm tối hôm đó, sương chiều mù trời, dưới sông nước cạn chảy trong veo. Trương Lương nét mặt trầm tư tản bộ ngắm cảnh, chàng chợt nhìn thấy ông lão vẫn ngồi câu cá đánh rơi chiếc dép xuống nước. Cũng vừa lúc ông lão cất tiếng gọi: này chú nhỏ nhặt cho ta chiếc dép kia. Nghe tiếng gọi xách mé Trương Lương giận vô cùng nhưng nghĩ lại ông già gân cốt chẳng được là bao nhiêu, hơn nữa sở dĩ ông ta thô lỗ chắc vì kém kiến thức, nên chàng trầm tĩnh bước xuống chân cầu nhặt dép. Đưa dép đến nơi chàng nghe thêm tiếng nữa chói tai: xỏ vào chân ta! Câu nói vô lễ lần này không làm cho Trương Lương ngạc nhiên nữa mà làm nổi dậy trong lòng chàng tính hiếu kỳ. Chàng ngoan ngoãn vâng lời. Công việc xong ông ta đứng phắt dậy đi thẳng không thèm buông nửa lời cảm tạ.Mấy ngày sau Trương Lương lại gặp ông lão ngồi câu ở đó, chưa kịp tỏ thái độ gì thì ông lão đã trỏ vào mặt chàng nói: Này chú, năm ngày nữa, đúng sáng sớm chú đến đây gặp ta. Y hẹn Trương Lương tới thật sớm, đã thấy ông lão có mặt ở đấy rồi. Vừa thấy mặt chàng ông lão đã quát mắng: Hẹn với lão sao nhà ngươi đến chậm như vậy? Nói xong ông quay ngoắt rảo bước và vói lại một câu: Hẹn năm ngày nữa cũng buổi sớm. Ngày hẹn tới Trương Lương dậy từ canh hai để sửa soạn, đến nơi gà vừa gáy tiếng đầu tiên nhưng vẫn không kịp vì ông lão đã có mặt tự bao giờ rồi. Bị mắng thêm lần nữa. Lần thứ ba Trương Lương quyết chí đến sớm hơn bằng cách chàng đến chờ ở nơi hẹn từ chập tối, ông lão mới hài lòng. Ông rút ở trong người ra một cuốn giấy cũ kỹ mà bảo với Trương Lương rằng: Con hãy về đọc kỹ cuốn sách này, đây là cuốn sách dạy làm thầy vua. Con cần nỗ lực trong mười năm, mười ba năm nữa ta sẽ gặp lại con nơi chân núi Cốc Thành miền Sơn Đông. Mười ba năm trôi qua, Trương Lương theo phò Lưu Bang tranh thiên hạ, có việc khẩn phải đi qua núi Cốc Thành, nhớ lời ước hẹn năm nào, Trương Lương có ý trông đợi ông lão, nhưng đợi đã nhiều ngày chẳng thấy ông lão đâu, chỉ thấy tảng đá vàng hình thù rất đẹp, Trương Lương chở tảng đá đem về lập miếu thờ. Mở chính sử Trung Quốc ra coi thì cái tên Hoàng Thạch Công không hề thấy ghi chép trong bất cứ cuốn sách nào. Ông xuất thân thế nào, tên thật và quê quán đều vắng lặng. Hoàng Thạch Công hoàn toàn là một huyền thọai, Hoàng Thạch Công chính là bản thân lịch sử hiển hiện thành người dã sử để tô điểm thêm cho cái tài an bang tế thế tột bậc của Trương Lương. Cuộc đời và sự nghiệp của Trương phải có Hoàng Thạch Công thì mới thành tựu được. Mười ba năm sau vụ ám sát Tần Thủy Hoàng là mười ba năm Trương Lương theo học thầy Hoàng Thạch Công, nhưng ông thầy đó lại không có thực. Vậy thì lời dạy trong mười ba năm ây đúng ra là lời dạy của lịch sử, của thực tiễn đấu tranh. Thắng trận Cai Hạ, giết Hạng Võ thu giang san về một mối xong, Trương Lương đã bỏ cuộc đời phú quý để vào rừng đi hái thuốc. Điều này nói rõ tâm chất Trương Lương vốn dĩ là con người lãng mạn không tưởng, tâm chất đương nhiên của một đệ tử thế gia.Cho nên lúc Tần diệt Hàn cái tâm chất lãng mạn không tưởng kia tất nhiên phải nhảy vào hành động chính trị bằng thái độ vô chính phủ (anarchiste), khủng bố (terrorisme). Lề lối tác loạn vô chính phủ và khủng bố không đủ khả năng để tiêu diệt guồng máy thống trị bạo Tần. Trương Lương thất vọng trốn xuống Nam rồi ở đây chàng gặp những đầu óc lão luyện giang hồ. Thể nghiệm bản thân và học hỏi những tư tưởng mới mẻ đầy thực tế, Trương Lương đã phát hiện thấy phương pháp diệt Tần. Lúc Trương Lương cúi xuống nhặt dép cho ông lão rồi quỳ xuống bỏ dép vào chân người lạ, chính là lúc mà Trương Lương đã từ bỏ hẳn cái học vô ích của mình từ trước đến nay, dứt khóat hẳn với cái thân phận danh gia tử đệ ra mặt đứng vào cái thế chính trị mới để lao vào cuộc đấu tranh thời đại của thân phận áo vải làm Hoàng Đế sau này là Lưu Bang. Cảnh ấy cũng tựa như cảnh Trifimo trong vở kịch Ciseraie (Tchekov) đánh chiếc xe troika dời bỏ khu rừng cũ để vào cuộc đời mới, cuộc đời mới của Trương Lương là trở nên một tay chính trị nhà nghề, thóat bỏ hẳn cái xác chính trị dũng sỹ trước kia.


Dow load Files: Thu doan chinh tri.rar

Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2008

"Tìm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức"


Cuốn “Tìm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức” của giáo sư Trần Đức Thảo do nhà xuất bản Xã hội xuất bản ở Pari năm 1973, dày 344 trang. Trong lời giới thiệu, nhà xuất bản có giới thiệu tác giả là người đã để lại dấu ấn trong “cả một thế hệ trí thức Pháp qua những bài giảng của ông ở Trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm cũng như qua cuốn sách in năm 1951”.

Giáo sư Trần Đức Thảo quê ở Bắc Ninh, thi đỗ vào học Trường Cao đẳng Sư phạm Pari ở phố Ulm, năm 1943 tốt nghiệp thủ khoa, rồi sau đó làm luận án tiến sĩ ở trường đại học Sorbonne. Năm 1945-1948, ông giảng dạy ở trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm và Trường Sevnes. Năm 1951, ông viết cuốn sách “Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng”, trong cuốn “Từ điển triết học”, Bernard và Porothee Raussant đã viết rằng cuốn sách đó là “một tác phẩm gây sửng sốt” mà tính táo bạo trong cách nhìn và sự sáng tỏ trong cách diễn đạt đã nhanh chóng được coi là kinh điển, đóng vai trò quan trọng trong việc đào luyện nhiều nhà triết học trẻ.

Sau năm 1951, giáo sư trở về Việt Nam, làm giảng viên đại học ở chiến khu Việt Bắc, rồi làm ở Văn phòng Tổng bí thư, Chủ nhiệm khoa Sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Phó hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tác phẩm "Tìm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức" của giáo sư là để trả lời câu hỏi ý thức, ngôn ngữ bắt nguồn từ đâu, có từ bao giờ? Ông đã nghiên cứu các vấn đề: hành động chỉ dẫn như là hình thức gốc của ý thức; ngôn ngữ hỗn hợp; những nguồn gốc của khủng hoảng Oedipe (ham muốn tình dục). ông đi đến khẳng định nguồn gốc của ý thức do ngôn ngữ và lao động xã hội

Cũng như các tác phẩm khác của ông, tác phẩm "Tìm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức" được các học giả đánh giá cao và tái bản nhiều lần, được Nhà nước Truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000.

Cuối những năm 80, ông còn cho xuất bản cuốn “Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người” đề cập nhiều vấn đề triết học hiện đại trên quan điểm mácxit.

Giáo sư Trần Đức Thảo sinh ngày 26/9/1917 tại Từ Sơn, Bắc Ninh; mất ở Paris vào ngày 24/4/1993 khi đang viết dở dang cuốn sách “Logic của hiện tại sống động”; được nhận Huân chương Độc lập hạng Hai

Đọc toàn văn tại:Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức

Dow load tiếng việt: Tim ve coi nguon cua ngon ngu va y thuc - Tran Duc Thao.rar

MỘT SỐ BÀI BÁO VÀ TIỂU LUẬN CỦA TRẦN ĐỨC THẢO

Trước đây, tôi có làm một ebook tập hợp những bài báo và tiểu luận của triết gia Trần Đức Thảo đăng trên trang web của GS. Trần Hữu Dũng (http://viet-studies.info), nay up lên để mọi người cùng đọc.


Phải nói một nghịch lý là trên thế giới, nhất là tại Pháp, người ta biết đến Trần Đức Thảo còn nhiều hơn người Việt Nam biết về ông. Có thể bởi ông không đưa ra một học thuyết nào lớn như Hegel hay Mác, nên người ta ít chú ý đến ông hơn chăng ?

Dowload Files : Tieu_luan_Tran_Duc_Thao.rar


Phần một: Nhập đề lịch sử tư tưởng


Phần hai: Biện chứng pháp của tiền sử tư tưởng


Phần ba: Vấn đề nhận thức của loài người trong xã hội nguyên thủy

Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại

Nhung tu tuong lon tu nhung tac pham vi daiCầm quyển sách Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại (+), có thể người xem sẽ hơi… ngộp, nó bao hàm quá nhiều lĩnh vực, đơn giản vì đó là "sách của sách". Nhưng tác phẩm này xứng đáng được gọi là một cuốn sách hay.

Tác giả, Dr. Mortimer J. Adler là một chuyên gia về lịch sử tư tưởng phương Tây, ông giữ một chuyên mục của một tờ báo ở Mỹ, ông có nhiệm vụ trả lời tất cả những câu hỏi của bạn đọc thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội. Chủ yếu, bạn đọc muốn biết các nhà tư tưởng phương Tây trong quá khứ đã suy nghĩ và lý giải thế nào về những vấn đề con người hiện thời đang đối mặt. Và tác giả cuốn sách này, làm công việc đọc những tác phẩm bất hủ của họ và hệ thống, nói lại cho độc giả nghe. Thành công của chuyên mục kể trên là lý do cuốn sách này ra đời.

Cấu trúc cuốn sách dọc theo những câu hỏi chia thành từng nhóm đề tài, từ đạo đức, chính trị, xã hội, kinh tế... đến thần học, siêu hình học, triết học, mỹ học, nghệ thuật, quan hệ người và người… Không có tuyệt đối đúng sai, trả lời bằng cách trình bày các ý kiến của các nhà tư tưởng lớn, các ý kiến đưa ra có thể xung khắc nhau, và có thể lỗi thời so với hiện tại… nhưng đó là thành quả của nhiều năm lao động trí óc, từ đó, người đọc có thể học tập phương pháp tư duy của các nhà tư tưởng lớn.

Tác phẩm bổ ích cho tất cả mọi người vì những câu hỏi đặt ra rất gần gũi, là những vấn đề con người hiện đại quan tâm. Một điều thú vị khác, cuối sách có phần phụ lục gồm hình ảnh và tiểu sử tóm tắt của 42 nhà tư tưởng phương Tây tiêu biểu trong lịch sử.

Sách dễ đọc, đọc một mạch để làm giàu lý luận, hay có thể chỉ đọc những gì mình quan tâm nhất, đều thấy thú vị, giống như một cuốn từ điển có thể tra cứu bất kỳ lúc nào.

HƯƠNG YÊN (Báo Tuổi Trẻ, 28/05/2004)

_______________

(+) Tác giả Dr. Mortimer J. Adler, từ nguyên tác Great Ideas From The Great Books, Phạm Viêm Phương & Mai Sơn dịch và chú thích, NXB Văn Hoá Thông Tin, quý 1 năm 2004.

Nội dung tác phẩm

Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại
Dr. Mortimer J. Adler
Phạm Viêm Phương và Mai Sơn (Dịch và chú giải)
NXB. Văn Hoá Thông Tin - 2004


Sách gồm 10 phần:

Phần 1: Những câu hỏi về triết học, khoa học và tôn giáo
Phần 2: Những câu hỏi về chính trị: con người và quốc gia
Phần 3: Những câu hỏi về các vấn đề đạo đức
Phần 4: Những câu hỏi về nền giáo dục khai phóng và những tác phẩm lớn
Phần 5: Những câu hỏi về thần học và siêu hình học
Phần 6: Những câu hỏi về các vấn đề xã hội
Phần 7: Những câu hỏi về các định chế kinh tế
Phần 8: Những câu hỏi về nghệ thuật và cái đẹp
Phần 9: Những câu hỏi về tình yêu và tình bạn
Phần 10: Những câu hỏi về con người và thế giới con người
Phụ lục: Những hình ảnh và tiểu sử tóm tắt của 42 nhà tư tưởng tiêu biểu trong lịch sử.



Mai Sơn (1956), nhà báo, nhà văn và dịch giả hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông chuyên dịch trong lĩnh vực biên khảo và triết học, đã xuất bản 3 tập truyện và 4 tác phẩm dịch, sắp xuất bản tác phẩm biên soạn „100 đại triết gia“.

Phạm Viêm Phương (1955), dịch giả của nhiều tác phẩm văn học, triết học, chính trị, kinh tế, hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.


Toàn văn bản dịch tác phẩm „Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại“ (bản PDF, 393 trang, 3.018 KB)

Hoặc : http://ebook.uploader.googlepages.com/nhung_tu_tuong_lon.rar


Phụ lục (Đính chính)

SOCRATES (469 – 399 tr. CN)

Triết gia Hy Lạp. Triết học của ông còn lưu giữ được thông qua trước tác của các học trò ông, đặc biệt là Plato. Ông sử dụng một phương pháp sau này trở nên nổi tiếng là “phương pháp Socrates” để tra vấn những tin tưởng truyền thống về đạo đức, công bằng, và những ý niệm xã hội khác. Bị buộc tội vô thần và làm suy đồi giới trẻ, ông phải nhận bản án tử hình.


PLATO (428 – 347 tr. CN)

Triết gia Hy Lạp. Ðồ đệ của Socrates, và thầy dạy của Aristotle, ông sáng lập Hàn Lâm Viện Athens. Các tác phẩm của ông, được viết dưới hình thức đối thoại, có thể kể Phaedo, Symposium, và Republic.


ARISTOTLE (384 – 322 tr. CN)

Triết gia và nhà khoa học Hy Lạp. Ông là một trong những triết gia có ảnh hưởng nhất đến triết học Tây phương.

Aristotle lần đầu đến thụ giáo Plato lúc còn là một cậu thiếu niên, và ba mươi năm sau ông sáng lập trường cao đẳng Lyceum, ở đó ông dạy và viết về mọi đề tài: triết học, lôgic, chính trị, tu từ học, văn chương, và các khoa học. 1500 năm sau ông vẫn còn được coi là người có thẩm quyền về các chủ đề này.


SAINT AUGUSTINE (354 – 430)

Giáo sĩ và nhà thần học La Mã. Kiệt tác của ông,The Kingdom of God, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của Thiên Chúa giáo.

Augustine là nhân vật hàng đầu của giáo hội Bắc Phi đầu thế kỷ V. Ông triển khai triết học Kitô giáo theo đường hướng học thuyết của Plato.


SAINT THOMAS AQUINAS (1225 – 1274)

Triết gia kinh viện Ý. Nhà thần học chính yếu của Cơ Ðốc giáo La Mã.


MIGUEL DE CERVANTES (1547 – 1616)

Tiểu thuyết gia, kịch tác giaTây Ban Nha. Tiểu thuyết Don Quixote (1605 - 1615) của ông ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của tiểu thuyết.


GALILEO (1564 – 1642)

Nhà vật lý, nhà thiên văn người Ý. Là một trong những người đặt nền tảng cho cuộc cách mạng khoa học ở châu AÂu, những đóng góp chủ yếu của ông bao gồm việc áp dụng kính viễn vọng vào ngành thiên văn và việc khám phá ra quy luật của các vật thể rơi và những chuyển động của đạn.


WILLIAM SHAKESPEARE (1564 – 1616)
Nhà thơ, nhà soạn kịch người Anh. Ông được thừa nhận rộng rãi là một trong những nhà soạn bi kịch vĩ đại nhất trong khối nói tiếng Anh. Các tác phẩm chính: Romeo và Juliet (1592), Hamlet (1601?), Macbeth (1606), Vua Lear (1607)


RENÉ DESCARTES (1596 – 1650)

Triết gia, nhà toán học Pháp. Ông thường được coi là cha đẻ của triết học hiện đại. Tác phẩm nổi tiếng Phương pháp luận (1637) của ông giới thiệu kỹ thuật truy tầm triết lý. Công trình về hình học giải tích của ông dẫn đến hệ thống tọa độ mang tên Descartes.


JOHN MILTON (1608 – 1674)

Nhà thơ Anh. Thơ của ông được xếp vào loại tài sản quí báu nhất của văn học Anh, trong đó có kiệt tác The Lost Paradise (1667) thuật lại câu chuyện Adam và Eve bị đuổi khỏi vườn địa đàng


BARUCH SPINOZA (1632 – 1677)

Triết gia Hà Lan. Chống lại Do Thái giáo nền tảng văn hóa của mình, ông triển khai một thứ triết học kết hợp những yếu tố duy lý và phiếm thần. Tác phẩm chủ yếu của ông là Ethics (1674).

ISAAC NEWTON (1642 – 1727)

Khoa học gia người Anh. Ông khám phá ra luật hấp dẫn, sáng nghĩ ra phép tính, và diễn đạt luật chuyển động. Ông nhận thấy rằng ánh sáng trắng là sự pha trộn của các thứ ánh sáng có màu. Tác phẩm chính: Những nguyên lý toán học của triết học tự nhiên (1687) và Quang học (1704)


VOLTAIRE (1694 – 1778)

Triết gia, nhà văn Pháp. Là khuôn mặt hàng đầu trong phong trào Ánh sáng, ông viết nhiều tác phẩm văn học thể hiện tinh thần cực đoan và những ý tưởng tôn giáo của mình. Các tác phẩm chính có thể kể: Những bức thư triết học (1734), Candide (1759), Tự điển triết học (1764)


DAVID HUME (1711 – 1776)

Triết gia, sử gia người Scotland. Các tác phẩm chính: Luận về Bản tính con người (1739 - 1740) và Khảo về tri thức con người (1758)


JEAN JACQUES ROUSSEAU (1712 – 1778)

Triết gia, nhà văn Pháp. Ông là một trong những tác giả vĩ đại nhất của phong trào Ánh sáng. Các tác phẩm của ông có thể kể Xã Ước (1762), Nàng Heloise mới (1761), và Émile (1762).

ADAM SMITH (1723 – 1790)

Triết gia, nhà kinh tế học người Anh. Ông trình bày học thuyết mậu dịch tự do của mình trong tác phẩm Sự phồn vinh của các quốc gia (1776)


IMMANUEL KANT (1724 – 1804)
Triết gia Ðức. Ông là người gieo ảnh hưởng sâu xa lên triết học Tây phương qua hai tác phẩm chủ yếu Phê phán lý tính thuần túy (1781) và Phê phán lý trí thực hành (1788)


GEORGE WASHINGTON (1732 – 1799)

Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ. Tổng tư lệnh quân đội Mỹ trong cuộc Cách mạng 1775 - 1783


THOMAS JEFFERSON (1743 – 1826)

Tổng thống thứ ba của nước Mỹ. Tác giả Tuyên ngôn độc lập (1776)


JOHANN WOLFGANG VON GOETHE (1749 – 1832)

Nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà khoa học Ðức. Là một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn của văn học châu AÂu, ông trước tác rất nhiều từ thơ, tiểu thuyết, kịch đến tiểu luận và thư từ. Kiệt tác của ông là bi kịch Faust (1808 - 1832). Ông cũng là tác giả của tiểu thuyết Nỗi đau của chàng Werther (1774).


GEORG WILHEM FRIEDRICH HEGEL (1770 – 1831)

Triết gia Ðức. Hệ thống siêu hình học duy tâm của ông tạo nên một ảnh hưởng to lớn đối với tư tưởng châu AÂu thế kỷ 19. Các tác phẩm của ông có thể kể: Hiện tượng luận về tinh thần (1807), Bách khoa các khoa học về triết học (1817


ARTHUR SCHOPENHAUER (1788 – 1860)

Triết gia Ðức. Triết học vô thần, bi quan sâu sắc của ông được trình bày cặn kẽ trong Thế giới như ý chí và Biểu tượng (1819).


JOHN STUART MILL (1806 – 1873)

Triết gia và nhà kinh tế học người Anh. Các tác phẩm quan trọng nhất của ông có thể kể: Một hệ thống Logic (1843) và Luận về tự do (1859).


ABRAHAM LINCOLN (1809 – 1865)

Tổng thống thứ 16 của nước Mỹ. Ông lãnh đạo Liên bang chiến thắng trong Nội chiến và xóa bỏ chế độ nô lệ. Ông bị ám sát trong khi đang xem kịch tại nhà hát.


CHARLES DARWIN (1809 – 1882)

Khoa học gia người Anh. Oâng là người đặt nền móng cho thuyết tiến hóa. Kiệt tác gây nhiều tranh cãi của ông là Nguồn gốc Chủng loài Thông qua Chọn lọc Tự Nhiên (1859).





SOREN KIERKEGAARD (1813 – 1855)

Triết gia Ðan Mạch. Triết học tôn giáo của ông đề cập đến hiện sinh cá nhân, sự lựa chọn, và sự cam kết; nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến thần học và các triết gia hiện sinh.


HENRY DAVID THOREAU (1817 – 1862)

Triết gia, tiểu luận gia người Mỹ. Các tác phẩm chính: Bất phục tùng dân sự (1849) và Walden (1854), trong đó ông mô tả một đời sống bình dị gần gũi với tự nhiên


KARL MARX (1818 – 1883)

Triết gia Ðức. Các tác phẩm của ông, đặc biệt là Tuyên ngôn Cộng sản (1848) và Tư bản luận (1867, 1885, 1894), là nền tảng của Chủ nghĩa cộng sản.


WALT WHITMAN (1819 – 1892)

Nhà thơ và nhà tiểu luận người Mỹ. Ông nổi tiếng với thơ tự do mà tiêu biểu là tuyển tập thơ mang tính cách tân về thi pháp Lá Cỏ (1855 - 1889)


FRIEDRICH ENGELS (1820 – 1895)

Nhà tư tưởng chính trị, nhà cách mạng Ðức. Ông là đồng tác giả Tuyên ngôn Cộng sản (1848) với Karl Marx đồng thời là người hỗ trợ tài chính cho Karl Marx.


FYODOR DOSTOYEVSKY (1821 – 1881)

Tiểu thuyết gia Nga. Tác phẩm chính: Tội ác và Hình phạt (1866) và Anh em nhà Karamazov (1879 - 1880)


LEV TOLSTOY (1828 – 1910)

Nhà văn Nga, tác giả hai bộ tiểu thuyết sử thi Chiến tranh và Hòa bình (1865 - 1869) và Anna Karenina (1875 - 1877). Ông bị trục xuất ra khỏi Chính Thống Giáo Nga vì những quan điểm cực đoan về quyền lực của giáo hội


FRIEDRICH NIETZSCHE (1844 – 1900)

Triết gia Ðức, tác giả của kiệt tác Zarathustra đã nói như thế (1883 - 1885), một trong những triết gia có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 19. Ông xây dựng một nền triết học dựa trên ý chí vươn tới quyền lực và chống đối tôn giáo.


ARTHUR RIMBAUD (1854 – 1891)

Nhà thơ Pháp. Tác phẩm chính: Một mùa địa ngụcNhững bức tranh tô màu (1873)


SIGMUND FREUD (1856 – 1939)

Bác sĩ người Áo, cha đẻ của phân tâm học. Ông khai triển nhiều lý thuyết chủ yếu đối với phân tâm học, tâm lý học về tính dục con người, và sự minh giải giấc mơ. Các tác phẩm của ông có kể Minh giải giấc mơ (1899) và Cấm kỵ và Vật tổ (1913)


BERTRAND RUSSELL (1872 – 1970)

Triết gia, nhà toán học, nhà hoạt động hòa bình người Anh. Ông viết nhiều tác phẩm triết học có ảnh hưởng lớn. Ông đoạt giải Nobel văn chương năm 1950.

Bertrand Russell vượt lên những ảnh hưởng liên tục của Bradley, Moore, Frege, và Wittgenstein để trở thành một triết gia Anh có nhiều độc giả nhất của thế kỷ XX.


ALBERT EINSTEIN (1879 – 1955)

Nhà vật lý người Mỹ gốc Ðức. Thuyết tương đối của ông là cuộc cách mạng về tư tưởng khoa học và là nền tảng lý thuyết cho năng lượng nguyên tử. Ðoạt giải Nobel vật lý năm 1921.


WILLIAM FAULKNER (1897 – 1962)

Nhà văn Mỹ. Ông được đánh giá là một trong những tiểu thuyết gia Mỹ vĩ đại nhất vì những tác phẩm viết theo kỹ thuật giòng - ý - thức về đời sống ở miền Nam nước Mỹ, trong đó có AÂm thanh và Cuồng nộ (1929). Ðoạt giải Nobel văn chương năm 1949.


ERNEST HEMINGWAY (1899 – 1961)

Nhà văn Mỹ. Một trong những nhà văn hàng đầu của thế kỷ 20. Các tác phẩm của ông có thể kể: Giã từ vũ khí (1929) và Chuông nguyện hồn ai (1940). Ðoạt giải Nobel văn chương năm 1954.


JEAN PAUL SARTRE (1905 – 1980)

Triết gia, kịch tác gia, và tiểu thuyết gia người Pháp. Là người chủ xướng thuyết hiện sinh, ông viết tác phẩm triết học Hữu Thể và Hư voâ (1943) và tiểu thuyết Buồn nôn (1938).

Jean Paul Sartre đã trở thành hình mẫu của trí thức Pháp: sâu sắc và khó hiểu, chống lại quy ước, dấn thân vào chính trị.

ALBERT CAMUS (1913 – 1960)

Tiểu thuyết gia, tiểu luận gia, nhà soạn kịch người Pháp, sinh tại Algeria. Các tác phẩm của ông có thể kể: Kẻ xa lạ (1942) và Dịch hạch (1947). Ðoạt giải Nobel văn chương năm 1957.

ARTHUR MILLER (1915 - )

Kịch tác gia Mỹ. Ông đoạt giải Pulitzer với vở bi kịch Cái chết của người chào hàng (1949). Người vợ thứ hai của ông là diễn viên điện ảnh Marylin Monroe.

Binh Pháp Tôn Tử

Binh Pháp Tôn Tử :: Tôn Vũ và Sơ lược về Binh pháp Tôn Tử

Tôn Vũ(LAC™) Nói đến các sách lược chiến đấu thì trên thế giới có không ít, nhưng không thể không nhắc đến “Thập Tam Thiên” (13 Chương) của “Tôn Tử Binh Pháp”. Vậy bạn biết gì về Tôn Tử Binh Pháp? Trong một đêm không gió… không mưa… không sương… không trăng sao… và đặc biệt là không ngủ (được)… Lắc đã ngồi nghiền ngẫm cuốn Tôn Tử Binh Pháp này và muốn giới thiệu cho mọi người biết những nét đặc sắc của Tôn Tử Binh Pháp. Cuốn sách mà ngày xưa là sách lận lưng của tướng soái xuất chinh còn ngay nay là cuốn sách gối đầu của các nhà tài phiệt, kinh doanh hàng đầu thế giới. Cuốn binh thư đầu tiên của thế giới, đúc kết những kinh nghiệm trận mạc của nhà quân sự hàng đầu thế giới: Tôn Vũ.

I. Tôn Vũ là ai?

Tôn Vũ (孫武 - pinyin: Sūn Wǔ), 554 - 496 trước Công Lịch, là người gốc nước Tề (Trung Hoa). Ông sinh ra trong thời loạn Xuân Thu Chiến Quốc (722 - 481 trước Công Lịch), đây cũng là thời kỳ ra đời của Khổng Phu Tử, hay còn gọi là Khổng Tử, học thuyết gia nổi tiếng với Nho học và Đạo Khổng tồn tại và phát triển ở các nước ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa cho tới tận ngày nay. Xuân Thu Chiến Quốc là giai đoạn mà chiến tranh và tư tưởng quân sự bao trùm gần như là tất cả.

Ngay trong tên gọi của ông, chữ Vũ có nghĩa là vũ khí, vũ lực. Ông đã làm quan đến chức Phá Sở Đại Nguyên Soái, quân sư cho vua Ngô Hạp Lư và đã lập được nhiều công lớn. Vì nước Ngô mà ông đã đem ba (03) vạn quân phá tan hai mươi (20) vạn quân của nước Sở để vào Sính Đô, làm cho các nước Tề, Tấn ở chung quanh phải khiếp sợ, đưa nước Ngô từ một tiểu quốc chư hầu trở thành một đại quốc chư hầu có thể xưng hùng xưng bá với 6 nước còn lại. Mặc dù là một nhà quân sự lỗi lạc nhưng quan điểm của Tôn Tử là hòa bình và thanh đạm. Do không ham công hầu, danh tướng mà ông đã về ở ẩn tại La Phù Sơn (núi La Phù), thuộc nước Ngô và viết nên Thập Tam Thiên (13 chương) Binh Pháp, còn gọi là Tôn Tử Binh Pháp (孫子兵法 - pinyin: Sun-tzu ping fa).

Tuy thời gian tham chiến không lâu nhưng những gì ông đã để lại cho đời có giá trị rất lớn và lâu dài.

II. Sơ lược về Tôn Tử Binh Pháp
Binh pháp Tôn T�

Binh pháp Tôn Tử là cuốn binh thư bằng tiếng Trung Quốc đầu tiên, được viết vào thế kỷ thứ 6 trước Công Lịch. Bao gồm 13 chương, mỗi chương là một khía cạnh khác nhau của chiến tranh quân sự, tập hợp các kỹ, chiến thuật trong đấu tranh. Có thể xem đây là một cuốn sách cổ xưa nhất về chiến thuật chiến tranh của thế giới. Cuốn sách đã được dịch thành 29 thứ tiếng và tạo được sức ảnh hưởng rất lớn về chiến thuật chiến tranh quân sự từ Đông sang Tây bán cầu. Thậm chí còn tạo ảnh hưởng đến thương mại và còn hơn thế nữa. Tôn Tử là người đầu tiên nhận thấy được tầm quan trọng của chiến thuật, kết hợp với các điều kiện, hoàn cảnh để tác động đến đối phương.

Năm 1782, cuốn sách lần đầu tiên được dịch sang tiếng Pháp, và đã gây ảnh hưởng rất mạnh mẽ cho Hoàng đế Napoleon. Nhà lý luận quân sự nổi tiếng người Anh, người đặt nền móng lý luận ”đại chiến lược” Lydern Hatill không chỉ tự mình dịch toàn bộ nguyên bản cuốn Tôn Tử Binh Pháp ra tiếng Anh mà ông còn viết thêm một quyển “Luận chiến lược” để dẫn giải và tường thuật lại. Hatill cho biết, trong tác phẩm quân sự của ông, giải nghĩa rất nhiều quan điểm tìm thấy qua nguyên bản cuốn Tôn Tử Binh Pháp từ hơn 2500 năm trước. Nó cũng góp phần hoạch định chiến dịch Bão Sa Mạc tại Kuwait năm 1991 của Quân Mỹ và NATO. Theo ghi chép, cuốn sách là gối đầu của các đại tướng, tướng quân nằm trong 10 đại tướng của Thế Giới qua các thời đại như Võ Nguyên Giáp, Trần Hưng Đạo (người đã viết ra Bình Thư Yếu Lược). Mao Trạch Đông và Joseph Stalin cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ cuốn sách này.

Nội dung của sách cũng đã được ứng dụng và rất thành công trong lĩnh vực thương mại và quản lý.

III. Tôn Tử đã cầm quân bao nhiêu lần ?

Trong bộ sử ký của mình, Tư Mã Thiên có viết về tài năng quân sự của Tôn Vũ (Tôn Tử) như sau: “Tôn Vũ phía tây đại phá nước Sở mạnh, phía Đông dẹp yên Tề, Tần uy danh lừng lẫy khắp chư hầu, làm tướng như thế thật khó ai so bì”. Quả thật trong 30 năm sự nghiệp quân sự của mình, Tôn Vũ đã lập nhiều chiến công hiển hách và luôn xứng đáng với những lời tôn vinh trong sử sách. Tuy nhiên có một vấn đề luôn gây ra sự tranh cãi kịch liệt từ trước đến nay đó là: rốt cuộc Tôn Vũ đã thân chinh chỉ huy bao nhiêu trận đánh. Vừa qua giới nghiên cứu lịch sử cổ đại Trung Quốc khi đã nghiên cứu, đối chiếu, tổng hợp, so sánh từ các sử liệu như: “Ngô việt Xuân Thu”, “Việt sắc thư”, “Tả truyện”, “Sử ký” đã đưa ra kết luận: Trong sự nghiệp quân dịch của mình, Tôn Vũ chỉ trực tiếp chỉ huy 5 trận đánh và chính 5 trận chiến “để đời” này đã góp phần đưa tên tuổi của ông bất hủ cùng thời gian.

* Lần chỉ huy thứ nhất: Xảy ra vào tháng 12 năm 512 trước công nguyên, khi đó Ngô Vương là Hạp Lư ra lệnh cho Tôn Vũ chỉ huy quân tiêu diệt 2 nước nhỏ là nước Chung Ngô và nước Từ. Trong lần cầm quân đầu tiên này, Tôn Vũ đã xuất sắc hạ gọn 2 nước trên đồng thời thừa thắng chiếm được đất Thư thuộc nước Sở lập công lớn được Ngô Vương ban thưởng.
* Lần chỉ huy thứ hai: Theo lệnh của Hạp Lư, năm 511 trước công nguyên, Tôn Vũ lại thống lĩnh ba quân cùng Ngũ Tử Tư, Bạch Hỷ đi chinh phạt nước Sở bởi lý do “Sở Vương từ chối không chịu trao thanh bảo kiếm Trạm Lô cho Hạp Lư”. Dưới quyền chỉ huy của Tôn Vũ quân Ngô đánh hai trận thắng cả hai, chiếm gọn 2 xứ Lục và Tiềm thuộc đất Sở.
* Lần chỉ huy thứ ba: xảy ra vào năm 510 trước công nguyên, lúc này giữa nước Ngô và nước Việt lần đầu tiên xảy ra cuộc chiến tranh quy mô lớn mà sử sách còn ghi lại đó là cuộc “Đại chiến Huề-Lý”. Trong cuộc chiến này lần đầu tiên Tôn Vũ đưa ra cách dụng binh “Quý hồ tinh bất quý hồ đa” trong đánh trận do vậy chỉ với 3 vạn quân với phép dụng binh tài tình của Tôn Vũ đã đánh bại 16 vạn quân nước Việt. (Ghi chú: nước Việt này không phải là Việt Nam của chúng ta, vì thời gian đó, chúng ta là nước Âu Lạc).
* Lần chỉ huy thứ tư: Vào năm 509 trước công nguyên xảy ra cuộc “đại chiến Dự Chương” giữa hai nước Ngô và Sở. Khi đó vua Sở sai con trai là công tử Tử Thương và công tử Tử Phàm dẫn đại quân tiến đánh nước Ngô, nhằm báo thù nỗi nhục mất đất năm xưa. Một lần nữa Ngô Vương Hạp Lư lại giao cho Tôn Vũ cầm quân chống giặc. Lần này Tôn Vũ khôn khéo vòng tránh đội quân chủ lực của công tử Thường, dùng lối đánh vu hồi tập kích doanh trại bắt sống công tử Phàm, quân Sở từ thế mạnh, chuyển sang yếu cầm cự chưa đầy một tháng phải rút chạy về nước.
* Lần chỉ huy thứ năm: Vào ngày 18-11-506 trước công nguyên, 2 nước Ngô-Sở một lần nữa xảy ra chiến tranh, sử sách gọi đây là “cuộc chiến Bách Cử”. Đây là cuộc chiến lớn nhất trong lịch sử 2 nước. Lần này quân Sở huy động 25 vạn quân tiến đánh nước Ngô, khí thế báo thù rất sôi sục. Theo kế của Tôn Vũ và Ngũ Tử Tư, vua Ngô bí mật liên kết với 2 nước nhỏ là Đường và Thái làm thành liên minh chống Sở. Khi tác chiến, Tôn Vũ triệt để lợi dụng địa hình thuận lợi của 2 nước “đồng minh” để triển khai chiến thuật “Khống chế chính diện”, “Tập kích vu hồi mạn sườn” của mình. Sau 5 lần giao chiến với quân Sở, Tôn Vũ đều giành thắng lợi. Cuối cùng 3 vạn quân Ngô đã phá tan 25 vạn quân Sở tiến vào kinh đô nước Sở buộc Sở vương phải tháo chạy.

Với 5 trận đánh “để đời” này, uy danh và tài thao lược quân sự của Tôn Vũ (Tôn Tử) lừng lẫy khắp thiên hạ. Thêm vào đó là bộ “Tôn Tử Binh Pháp” dài 13 thiên bất hủ của ông đã khiến cho tên tuổi của Tôn Vũ nổi tiếng khắp thế giới cho tới ngày nay


Download free ebook Binh phap ton tu

Thành Cát Tư Hãn


sinh ra với tên Thiết Mộc Chân (Тэмүүжин) khoảng năm 1155/1162/1167 và mất ngày 18 tháng 8 năm 1227, là Hãn vương của Mông Cổ và là người sáng lập ra Đế chế Mông Cổ sau khi hợp nhất các bộ lạc độc lập của Mông Cổ năm 1206. Là một nhà lãnh đạo lỗi lạc và quan trọng của lịch sử thế giới, ông được người Mông Cổ dành cho sự tôn trọng cao nhất, như là một vị lãnh đạo đã loại bỏ hàng thế kỷ của các cuộc giao tranh, mang lại sự ổn định về chính trị và kinh tế cho khu vực Á-Âu trong lãnh thổ của ông, mặc dù đã gây ra những tổn thất to lớn đối với những người chống lại ông. Cháu nội của ông và là người kế tục sau này, đại hãn Hốt Tất Liệt đã thiết lập ra triều đại nhà Nguyên của Trung Quốc (1271–1368) sau khi lật đổ triều đại nhà Nam Tống.

Có rất nhiều nhân vật nổi tiếng được cho là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, là những kẻ đi xâm chiếm nhiều đất đai về tay mình như Timur Lenk, kẻ chinh phục dân Thổ Nhĩ Kỳ, Babur, người sáng lập ra Đế chế Mogul ở Ấn Độ. Những hậu duệ khác của Thành Cát Tư Hãn còn tiếp tục cai trị Mông Cổ đến thế kỷ 17 cho đến khi nó bị thống trị lại bởi người Trung Quốc.

Download free ebook thanh cat tu han

LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI


Tóm tắt nội dung:

Lịch sử thế giới cận đại phương Tây và lịch sử thế giới cận đại phương Đông bắt đầu từ cuộc cách mạng tư sản Anh giữa thế kỉ XVII, kết thúc bởi cuộc cách mạng XHCN tháng Mười Nga và Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đầu thế kỉ XX, với nội dung cơ bản là sự chuyển biến từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa.

Download free ebook lich su the gio can dai



Lịch Sử Văn Minh Thế Giới (Đoàn Trung biên soạn)

"Lịch Sử Văn Minh Thế Giới" là môn học có nhiệm vụ cung cấp những kiến thức cơ bản về quá trình ra đời và phát triển của các nền văn minh tiêu biểu trong lịch sử loài người.
Nội dung của cuốn sách như sau:
# Bài mở đầu.
# Chương 1: Văn minh Bắc phi và Tây Á.
# Chương 2: Văn minh Ấn Độ.
# Chương 3: Văn minh Trung Quốc.
# Chương 4: Văn minh Hy Lạp cổ đại
# Chương 5: Văn minh La Mã cổ đại.
# Chương 6: Văn minh Tây Âu thời Trung Đại.
# Chương 7: Sự xuất hiện văn minh công nghiệp.
# Chương 8: Văn minh thế giới thế kỉ XX.
Xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn.

dow load


http://www.vietnamweek.net/Library/Images/53/2007/10/Donga4.jpg

Tư liệu khảo cổ, lịch sử, văn hoá Đông Á
Tác giả :Nguyễn Đức Hiệp
Nguồn: Văn nghệ sông Cửu long
...............
Đông Nam Á là nơi cư trú lâu đời của con người từ khi con người hiện đại đi từ Đông Phi qua Ấn Độ đến Đông Nam Á hơn 60000 năm nay. Từ Đông Nam Á, con người đã đi đến Úc châu, và sau đó đã đi lên Đông Á. Người cổ nhất được tìm thấy ở Úc, ở hồ Mungo (nay là sa mạc), được định tuổi là khoãng 50000 năm. Hiện nay chưa tìm được di tích người cổ hơn người Mungo ở Đông Nam Á, nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy Đông Nam Á là điểm xuất phát của con người đi xuống lục địa Úc trong thời băng hà Pleistocene. Để có thể hiểu rõ quá trình phát triển của con người, chúng ta hảy đi ngược lại thời gian tìm hiểu về địa chất, môi trường sống trong vùng Đông Nam Á từ cuối thời băng hà Pleistocene cho đến ngày nay.

dow load

http://www.glorantha.to/~tome/arts/eastisle/angkor.jpg

Chân Lạp Phong Thổ Ký


Đọc sách ở đây nhiều rồi mà chưa đóng góp được gì cũng hơi kỳ, vậy xin bỏ lên đây cuốn ebook "Chân Lạp Phong Thổ Ký", nguồn đánh máy của anh Lê Bắc tại:

http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,7478

_______
Quyển sách duy nhất mô tả vùng Angkor, đế đô nước Cao Miên ngày xưa giữa thời cực thịnh là tập ký ức "Chân Lạp Phong Thổ Ký" của ông Châu Đạt Quan.

Ông Châu Đạt Quan, hiệu là Thảo Đình Di Dân, quê ở Vĩnh Gia, huyện Ôn Châu, tỉnh Triết Giang, Trung Hoa, năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Trinh (Bính Thân 1296) triều Vua Thành Tông (1295-1308) nhà Nguyên (1277-1368) theo một phái đoàn sứ giả sang Cao-Miên dưới triều vua Cindravarman (1295-1307). Ông ở đất Miên hơn một năm, ghi những điều mắt thấy tai nghe về cuộc du hành xuyên qua miền Nam Việt Nam ngày nay và mọi phương diện sinh hoạt của người bổn xứ. Năm thứ 1 niên hiệu Đại Đức (Đinh Dậu 1297), ông trở về và hoàn thành tác phẩm này trước năm 1312, đến đời nhà Minh (1368-1680) được ông Ngô-Quán, quê ở Tân-An, huyện Hấp, tỉnh An Huy hiệu đính.

Đối với các nhà khảo cổ, tập ký ức của họ Châu là một tài liệu vô cùng quý giá để tìm hiểu về Cao Miên, một quốc gia không có để lại lịch sử trên giấy mực, còn đối với người Miên thì chính họ phải nhờ những dòng chữ vàng ngọc kia để biết tổ tiên họ trong khoảng thời gian ấy.

Người đầu tiên phiên dịch tập ký ức này ra Pháp ngữ là ông Abel Rémusat trong năm 1819 đăng từng đoạn trên tạp chí của nhà xuất bản Dondey-Dupré và trong tập thứ 3 tạp chí Novel les Annales des Voyages của nhà xuất bản Eyriès et Maltebrun nhan đề: "Description du Royaume de Cambodge par un voyageur Chinois qui a visité cette contrée à la fin du XIIIe siècle" có kèm theo bức địa đồ. Năm 1829, bản dịch được đăng lại trên tạp chí Nouveaux Mélanges Asiatiques et Recueil de Morceaux de Critiques et de Mémoires của nhà xuất bản Schuber et Heide Joff ở Paris, từ trang 100 đến 152, không có bức địa đồ.

Năm 1902, ông Paul Pelliot cũng dịch ra Pháp ngữ đăng trên tạp chí của trường Bác Cổ Viễn Đông (Bulletin de L'Ecole francaise d'Extrême Orient) tập II, 1902 từ trang 123 đến 177.

Năm 1954, nhà xuất bản Adrien-Maison-neuve ở Paris ấn hành bản trên đây do Dịch giả sửa chữa nhiều nơi kèm theo phần bình giải rất phong phú, nhưng tiếc thay chỉ được có ba trong bốn mươi chương của nguyên bản thì ông từ trần.

Năm 1967, ông J. Gilman d'Arcy Paul phiên dịch tác phảm của ông Paul Pelliot ra Anh ngữ nhan đề: Chou-Ta-Kuan Notes on the customs of Cambodia ấn hành ở Bangkok (Thái Lan) do nhà xuất bản Social Sciences Association Press.

Chúng tôi soạn phần Việt ngữ theo nguyên văn tập ký ức do Bác sĩ Otto Karow, giáo sư tại Viện Đại Học Goethe ở tỉnh Frankfurt (Tây Đức) gởi tặng qua sự giới thiệu của Giáo sư Bùi Hữu Sủng, được ông Hoàng Đẩu Nam, chuyên viên Hán học ở Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa và Giáo sư Việt gốc Hoa Quách Chí Dân ở Phan Thiết giải thích những điểm cần thiết, sao cùng là vài điều nhận xét của chúng tôi mạo muội chua thêm.

Dịch giả: Lê Hương - Nhà xuất bản Kỷ Nguyên Mới - Ấn hành lần thứ nhất (1973), Saigon, Việt Nam.

dow load

http://farm1.static.flickr.com/212/508890824_d72d984ccd.jpg

Tháp Bà Nha Trang Và Lược Sử Chiêm Thành


Nói đến Nhatrang, "phố biển hiền hòa", "miền thùy dương cát trắng", nằm cách Huế khoảng 624 cây số về phía nam và cách Sàigòn khoảng 442 cây số về phía bắc; không ai lại quên nhắc đến một thắng cảnh độc đáo và cũng là một thánh tích quan trọng, đó là Tháp Bà Nhatrang hay Tháp Po Nagar.

dow load