Hiển thị các bài đăng có nhãn chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 17 tháng 3, 2008

Quân vương (The Prince)- NICCOLÒ MACHIAVELLI.

120 magnify
LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Niccolò Machiavelli (1469-1527) là một nhà chính trị thực tiễn, nhà văn, nhà sử học, nhà tư tưởng vĩ đại người Italia.

Với khối kiến thức đồ sộ do thừa hưởng sự giáo dục của một gia đình có nguồn gốc quý tộc, với niềm đam mê tri thức mãnh liệt và nhãn quan chính trị nhạy bén, Machivaelli đã viết lên nhiều công trình chính luận sâu sắc về nhà nước, chính trị, pháp luật… Trong số đó, cuốn Quân vương (The Prince) là công trình nổi tiếng nhất.
Suốt mấy thế kỷ qua, dưới nhiều ngôn ngữ khác nhau, Quân vương không ngừng thu hút sự quan tâm của hàng triệu độc giả trên thế giới, gây ra nhiều tranh luận và thậm chí có khi bị chỉ trích kịch liệt. Cho đến nay, nhiều hướng tiếp cận đối với tác phẩm Quân vương cũng như toàn bộ di sản của Machiavelli chưa hề thoả mãn nhu cầu của công chúng trong việc tìm hiểu, nghiên cứu các giá trị tư tưởng nhân văn của ông và dường như vẫn đang thách đố khả năng khám phá và sự sáng suốt của các nhà nghiên cứu và đông đảo độc giả.

Tiếp sau bản dịch tiếng Việt các tác phẩm Khế ước Xã hội của Rousseau và Tinh thần Pháp luật của Montesquieu của dịch giả Hoàng Thanh Đạm, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị trân trọng giới thiệu tác phẩm Quân vương trong Tủ sách Tinh hoa Nhân loại tới bạn đọc với bản dịch của dịch giả Vũ Mạnh Hồng và Nguyễn Hiền Chi.
Tới đây, chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu bản dịch tiếng Việt của các tác phẩm kinh điển của thế giới một cách có hệ thống như Nền Cộng hoà của Plato và Bàn về Chính trị của Aristotle. Qua đó, chúng tôi hy vọng độc giả Việt Nam sẽ có cái nhìn tổng thể về những tư tưởng tinh hoa của nhân loại.

Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp phê bình của bạn đọc.

NHÀ XUẤT BẢN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LỜI GIỚI THIỆU

Machiavelli là người bạn, là người cùng thời với Leonardo De Vinci. Nếu như ngay từ thế kỷ 16, thiên tài Leonardo De Vinci đã đưa ra những nguyên tắc cơ sở của máy bay trực thăng và tàu ngầm thì Machiavelli còn nghĩ ra những nguyên tắc cơ sở của thứ vũ khí nguy hiểm hơn gấp bội – vũ khí chính trị, với tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Quân vương.

Quân vương chủ yếu nói về thuật trị nước và thuật hưng quốc, là cẩm nang để nhà cầm quyền củng cố địa vị, quyền lực với vấn đề trung tâm là bàn về thủ đoạn chính trị. Đây là cuốn sách kinh điển, chuyên luận bàn về nhà nước, phẩm chất và các thủ thuật chính trị của những người đứng đầu nhà nước. Có thể nói, Quân vương là tác phẩm đầu tiên đặt nền tảng cho ngành chính trị học hiện đại.

Quân vương là kết quả của những đêm lạnh lẽo, Niccolò Machiavelli ngồi suy tư miệt mài và hy vọng đặt vào đó nỗi niềm của một con người có lòng yêu nước nồng nhiệt với mong ước thống nhất nước Italia và xây dựng một quốc gia hùng mạnh. Suy nghĩ của ông là suy nghĩ của một con người có kinh nghiệm thực sự, là kết quả của việc đọc vô số các tác phẩm chính trị và lịch sử.

Sống trong thời kỳ khi trật tự chính trị cũ kỹ của châu Âu đang tan vỡ, những vấn đề mới đang nảy sinh và nhiều biến động mạnh mẽ đang diễn ra trong xã hội, Machiavelli cố gắng lý giải ý nghĩa logic của các sự kiện để dự đoán những điều không thể tránh khỏi và để hình thành những luật lệ chi phối mọi hoạt động chính trị đang diễn ra trong bối cảnh hình thành một quốc gia.

Bằng những nỗ lực đầy trí tuệ của các dịch giả tác phẩm này, chúng tôi hy vọng rằng độc giả Việt Nam sẽ cảm thấy thích thú khi biết đến tư tưởng của con người là hiện thân của tinh thần nhân văn cao cả của thời đại Phục Hưng của thế kỷ 15-16. Qua tác phẩm này, độc giả sẽ nghĩ suy về thực trạng xưa, nay để rồi có thể sẽ ít nhầm lẫn hơn khi đối mặt với những gì thuộc về đương đại.

Hà Nội, tháng 1/2005
Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Đào

-----------
Tư liệu kèm bài này :

SỰ BÍ ẨN CỦA VỐN


Tác giả: Hernando de Soto.

Phạm Quang Diệu - biên dịch (2004)

Năm 1989, lần đầu tiên De Soto thu hút được sự chú ý của công chúng với cuốn Một con đường khác, cuốn sách ông viết về những trở ngại của doanh nhân. Là cố vấn cho Tổng thống Peru Alberto Fujimori, ông đã điều hành một dự án bảo đảm quyền sở hữu tài sản và xoá bỏ tệ quan liêu. Nhóm nghiên cứu của ông đã phát hiện phải mất 728 thủ tục hành chính để có được một ngôi nhà ở Thủ đô Lima, Peru. Viện nghiên cứu ILD của ông đặt tại Lima cũng đã phát hiện ra những điều tương tự ở Ai Cập, Indonesia và Haiti. Năm 2001, ông đã viết cuốn: Sự bí ẩn của vốn được giới học giả và các nhà chiến lược phát triển đánh giá cao đặc biệt. Hiện nay, De Soto đang làm cố vấn cho Tổng thống Mêhicô Vicent Fox. Chúng tôi xin giới thiệu tóm lược những chủ đề chính của cuốn sách cũng như những tư tưởng chính của ông qua cuộc phỏng vấn.

Hàng thế kỷ qua, đói nghèo luôn là vấn đề không thể tránh khỏi ở các nước đang phát triển. Tại sao phần lớn người dân vẫn bị ách lại trong cảnh nghèo khổ? Sự tồn tại song hành của nghèo đói với sung túc là câu hỏi hóc búa nhất trong tất cả các nền kinh tế, và nó chính là chủ đề một cuốn sách gây tranh cãi của nhà học giả người Peru, Hernando de Soto. Trong cuốn sách Sự bí ẩn của vốn, mặc dù Soto đã giản đơn hoá rất nhiều giải pháp cho vấn đề nghèo đói, bài viết của ông có giá trị lớn khi nhấn mạnh một vấn đề vẫn thường bị đánh giá thấp: Sự thất bại của hệ thống luật pháp trong việc công nhận và tôn trọng tài sản của người nghèo.

De Soto viết: Người dân ở những nước chậm phát triển cũng khôn khéo và có đầu óc kinh doanh như người dân ở những nước giàu có. Vấn đề khác biệt then chốt là vì phần lớn họ sống trong những ngôi nhà không phải là chủ sở hữu thực sự. Họ không có quyền pháp lý đối với đất đai, nhà cửa hoặc công việc kinh doanh. Họ không thể sử dụng chúng như những đồ ký quỹ hoặc vay mượn khi cần thiết. Họ cũng không thể sử dụng những dịch vụ thiết yếu như điện, nước. Và nếu họ có tích luỹ được tài sản, họ sẽ gặp rủi ro khi bị những rào cản từ phía Chính quyền.

Cuốn sách cho rằng, hệ thống luật pháp ở các nước đang phát triển hoạt động không tốt. Chính những thất bại đó đã làm những dãy nhà ổ chuột lụp xụp xuất hiện ngay ngoại ô những thành phố lớn của các nước đang phát triển. De Soto viết: “Điều mà các nhà lãnh đạo đất nước này đang bỏ qua chính là vấn đề người dân đang tự ý tách riêng thành những nhóm nhỏ ngoài luật pháp cho đến khi chính phủ đưa ra một hệ thống luật pháp mới cụ thể.”

De Soto và các đồng nghiệp đã tính toán rằng, ở các nước đang phát triển người dân nghèo sở hữu khoảng 9 nghìn tỷ $ tài sản một cách không chính thức , chủ yếu dưới dạng nhà cửa. Con số này vượt xa tất cả các khoản viện trợ quốc tế cho các nước đang phát triển. Nhưng điều quan trọng là số tài sản này của họ không được công nhận ở đâu cả, và họ không thể sử dụng chúng để vay mượn. De Soto lập luận rằng, cải cách hệ thống luật pháp sẽ giải phóng "nguồn vốn chết” đó, biến chúng thành động cơ tăng trưởng, như vốn ở các nước giàu có.

De Soto ủng hộ quan điểm cho rằng, biến những mảnh đất nhảy dù thành những khoản vốn- dù nhỏ- bằng cách trao cho người dân quyền sở hữu. De Soto đã giải thích, vào thế kỷ 19, Hoa Kỳ đã thực hiện điều đó chính xác như thế nào, khi Quốc hội và Toà án Tối cao trao quyền sở hữu tài sản cho những người đến sống định cư trong những khu nhà ổ chuột và những người tìm vàng.

Chương trình cải cách kinh tế vĩ mô của các nước đang phát triển thường không quan tâm đến người nghèo. Nghiên cứu của Viện ILD nơi De Soto công tác về nền kinh tế ngầm ở Thế giới thứ ba đã chứng minh rằng, người nghèo thực ra không đến mức quá nghèo khổ. ở Peru, riêng tài sản của người nghèo đã có giá trị khoảng 315 tỷ $ - gấp 7 lần giá trị tài sản của công ty dầu mỏ quốc gia Pemex. Cũng tương tự, tổng cộng tài sản thuộc sở hữu của người nghèo ở Ai Cập là 240 tỷ $, bằng 55 lần đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quãng thời gian hơn 200 năm, bao gồm cả chi phí xây dựng kênh đào Suez và Đập Aswan.

Các nước nghèo cũng đã chứng minh được rằng, họ có thể cải thiện tình trạng không rõ ràng trong sở hữu tài sản. Ví dụ, năm 1990, Công ty Điện thoại Peru (CPT) đã ghi tên vào thị trường chứng khoán Lima với giá trị ban đầu là 53 triệu USD. Nhưng sau đó, chính phủ Peru đã không thể nhượng bán CPT cho các nhà đầu tư nước ngoài với lý do: rất khó xác định quyền sở hữu của CPT với tài sản của họ. Ngay lập tức, chính phủ Peru đã đề ra các quy phạm pháp luật, quy định tài sản được tiêu chuẩn hoá theo chuẩn mực kinh tế toàn cầu. Kết quả là tài sản của CPT đã dễ dàng chuyển thành cổ phần. Những quy phạm tiêu chuẩn đó được ghi lại thành văn bản luật để đảm bảo quyền lợi cho phía thứ ba, đồng thời tạo lòng tin vào các nhà đầu tư cũng như hình thức tài chính tín dụng. Hệ thống văn bản pháp luật mới này cũng đề ra quy định rõ ràng, giải quyết tranh chấp tài sản có liên quan đến cả vấn đề tham nhũng. Ba năm sau, vốn luân chuyển của CPT đã là 2 tỷ $ - bằng 37 lần giá thị trường ban đầu. Tài sản của người nghèo cũng có thể được thừa nhận hợp pháp và chính nguồn đó sẽ hình thành vốn tiềm năng.

Đối với các nước giàu có, lịch sử phát triển là một câu chuyện về chính phủ đã lắng nghe và biến “luật của dân chúng” thành những quy tắc chung như thế nào để mọi người dân đều hiểu và tôn trọng. Tầng lớp những người giàu có kiểm soát được quyền sở hữu nhà cửa, tài sản… của riêng mình, họ đã có được những lợi thế cực kỳ to lớn so với 5/6 dân số nghèo khổ còn lại. Với quyền sở hữu tài sản, cổ phần và luật tài sản như vậy, họ đã có thể tiến xa hơn rất nhiều bằng cách vừa coi tài sản của họ như một vật hiện hữu có giá trị sử dụng (nhà cửa làm nơi cư ngụ), vừa có giá trị (dùng làm tín dụng thế chấp hoặc mở rộng kinh doanh). Bằng một hệ thống sở hữu tài sản hội nhập và mở rộng, các quốc gia phát triển đã tạo giúp người dân của họ thoát khỏi tầng hầm bụi bặm của thế giới cũ, giúp họ bước sang một vương quốc mới, nơi mà tài sản biến thành đồng vốn và sinh ra lợi nhuận.

Vấn đề của người dân nghèo thực ra không phải như chúng ta vẫn thường nghĩ mà nằm ở giải pháp đưa họ thoát khỏi cảnh khó khăn. Đã đến lúc đưa định nghĩa nghèo đói ra ngoài hệ thống luật pháp bảo thủ, vẫn thường coi quy định pháp luật là dinh thự kiên cố không thể di chuyển, và trao vấn đề đó vào tay các chính trị gia, những người hiểu rõ hơn ai hết luật pháp là một sự đồng thuận xã hội.

Làm sao để chuyển tài sản thành vốn

Đã qua ba thế kỷ, vốn vẫn là nguồn tạo cảm hứng cho các nhà tư tưởng. “theo Marx, bạn cần phải vượt qua khỏi phạm vi vật lý để đụng đến ‘con gà đẻ trứng vàng’; Adam Smith thì cho rằng bạn phải tạo ra ‘một chuyến xe bay trên không trung để đến được chú gà đó. Nhưng không ai cho chúng ta biết chú gà này ẩn nấp ở đâu. Vốn là gì, nó được tạo ra như thế nào và liên quan đến tiền ra sao?”. De Soto tóm tắt chìa khóa đi đến bí ẩn này như sau:

¾ Tập trung vào tiềm năng kinh tế của tài sản: vốn sẽ được sinh ra trong một cơ chế theo đó người sở hữu được phép tách nguồn lực khỏi giới hạn vật chất của nó và tập trung nhiều hơn vào tiềm năng sinh lời.

¾ Hợp nhất thông tin phân tán thành một hệ thống: Lý do các nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả ở các nước phát triển và không hiệu quả ở các nước đang phát triển là đa số tài sản ở các nước giàu đều đã được hợp nhất vào một hệ thống đặc trưng chính thức.

¾ Làm cho mọi người có trách nhiệm: làm cho người sở hữu và có thu nhập từ tài sản phải có trách nhiệm tạo ra cảm giác an toàn và đảm bảo cho các nhà đầu tư.

¾ Sử dụng tài sản cho nhiều mục đích: chuyển đổi tài sản trong điều kiện khó tiếp cận sang điều kiện dễ tiếp cận hơn.

¾ Nối kết người dân: làm cho tài sản dễ chuyển đổi mục đích, thực thi quyền sở hữu và làm cho thông tin dễ tiếp cận hơn; khi đó tài sản sẽ di chuyển một cách tự do giữa người dân.

¾ Bảo vệ các giao dịch: thông qua luật pháp, bằng khoán, hợp đồng, v.v. bằng cách tập trung vào sự an toàn của các giao dịch, các nước giàu cho phép công dân di chuyển một lượng lớn tài sản với số lượng giao dịch rất ít.

TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA DE SOTO[1]

Trong phần đầu tiên của cuốn sách “Sự bí ẩn của vốn”, ông đã viết, “Những khoảnh khắc vinh quang nhất của kinh tế thị trường cũng là những giờ phút khủng hoảng của nó. Bức tường Berlin sụp đổ đã đặt dấu chấm hết cho hơn một thế kỷ cạnh tranh chính trị giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản. Vào thời điểm lịch sử đó, không một quốc gia có sự lựa chọn nào khác. Và kết quả là những nước đang phát triển và các quốc gia cộng sản trước đây, cùng với các cấp độ nhiệt tình của mình, đã lập tức cân đối lại ngân sách, cắt bỏ bao cấp, mở cửa cho đầu tư nước ngoài và bãi bỏ các rào cản thuế khoá. Nhưng những nỗ lực vô cùng của họ đã bị đáp lại bằng một sự thất vọng cay đắng. Từ nước Nga cho đến Venezuela, suốt những năm cuối của thập kỷ 90 là khoảng thời gian dài nền kinh tế bị thiệt hại nặng nề và sụp đổ. Tất cả tràn ngập một nỗi lo lắng, sợ hãi và oán giận.”. Vậy theo ông, tại sao lại có sự thất vọng cay đắng như vậy?

Tôi nghĩ, một cách hữu hiệu để nhìn nhận thấu đó vấn đề đó là trước tiên chúng ta hãy nhìn vào các số liệu. Dân số thế giới là 6 tỷ, trong đó có 1 tỷ người mà mọi người gọi là “Phương Tây”, bao gồm: Tây Âu, Mỹ, Canada, và Nhật Bản cùng hai thuộc địa cũ là Đài Loan và Hàn Quốc, và cả Hồng Kông, Singapore. Các nước còn lại bao gồm: các quốc gia cộng sản trước đây, các quốc gia đang phát triển chiếm 5/6 dân số còn lại. Tuy nhiên, chỉ có 10% đến 20% trong số 5 tỷ dân có khả năng tiếp cận với các nguồn vốn, như thế chấp tài sản, thẻ tín dụng, trái phiếu, các dạng của chúng từ giấy mà bạn có thể tích luỹ giá trị và do đó, việc chuyên môn hoá có thể diễn ra trong một thị trường rộng lớn. Qua đó, điều mà chúng ta thấy rõ là 4 tỷ người còn lại – chiếm đến 2/3 dân số thế giới, đã không tham gia vào hệ thống này. Hay nói đúng hơn, họ không có giấy chứng nhận để gia nhập hệ thống, không có quyền sở hữu những tài sản thực tế là của họ, không có giấy phép cho công việc kinh doanh và những công cụ cần thiết để tính toán giá trị cũng như phương tiện luật pháp để đưa ra quyết định kinh doanh và chuyển nhượng vốn. Chứng từ giấy, đương nhiên, không chỉ đơn giản chứng minh quyền sở hữu của bạn. Nó cũng như con dao hiệu Army Thuỵ Sỹ, có rất nhiều lưỡi dao mà quyền sở hữu chỉ là một. Anh có thể dùng nó để làm tín dụng thế chấp hoặc như một công cụ đầu tư.

Tại sao kinh tế thị trường không đến với đại đa số người dân? Không phải bởi vì họ đã thử và không thể thích ứng với chúng. Không, vấn đề là kinh tế thị trường chưa bao giờ đến với họ. Kinh tế thị trường về cơ bản không phải là kinh doanh nhỏ bò hay lợn ngay tại chợ mà nằm ở giấy tờ sở hữu con bò hay con lợn đó. Khi chúng ta nói về kinh tế thị trường, chúng ta đang nói về dạng thị trường như thị trường trao đổi hàng hoá Chicago; Khi một người có giấy chứng nhận sở hữu 30.000 đầu gia súc, điều đó cũng có nghĩa là anh không phải nhìn tận mắt từng con bò. Một chứng từ giấy như vậy sẽ cho anh biết đầy đủ thông tin về đàn bò đó mà không cần nhìn thấy chúng. Anh sẽ biết được đàn bò đó có bao nhiêu con, thuộc quyền sở hữu của ai và chúng sẽ được bán trong điều kiện nào.

Với một chứng từ giấy như thế, anh sẽ có thể mua một đàn gia súc 30.000 con chỉ trong nháy mắt. Anh cũng có thể kinh doanh với số lượng lớn hoặc thậm chí mua – bán một nhà máy bằng cách chia nhà máy đó thành hàng trăm cổ phần. Hay nói cách khác, anh vừa có thể phối hợp và tổ hợp lại, vừa có thể bổ sung tài sản để tạo thêm của cải.

Đó chính là điều mà Adam Smith đã phát hiện khi ông đề cập đến “sự phân chia lao động ở một thị trường rộng hơn”. Nhưng để làm được điều đó, anh cần phải có chứng từ hợp pháp, đảm bảo tài sản anh sắp có đúng là thứ anh đã được giới thiệu và giao dịch của anh sẽ phải thực hiện theo những quy tắc cụ thể, tuân theo sự phán quyết của luật pháp và cảnh sát. Vậy thì có bao nhiêu người trong số 5 tỷ dân – những người không nằm trong nhóm được gọi là “phương Tây” - có những loại giấy chứng nhận như vậy cho tài sản của họ? Và có bao nhiêu giấy tờ được khung luật pháp bảo vệ khi anh tiến hành giao dịch kinh doanh? Chỉ có khoảng 500 triệu hay nhiều nhất là 1 tỷ người trong số đó có phương tiện cần thiết để tích luỹ vốn và tham gia vào các hoạt động kinh tế ở thị trường rộng lớn hơn. Đó là lý do tại sao kinh tế thị trường thất bại ở bên ngoài biên giới các nước phương Tây. Và chúng ta cũng đã không nhận ra điều đó cho mãi đến bây giờ, khi khả năng hàng hoá xuất hiện dưới dạng giấy tờ và được hệ thống luật hướng dẫn đã trở thành công cụ kinh tế cơ bản của kinh tế thị trường.

Ông đã kết luận rằng đại đa số người dân ở các nước đang phát triển sở hữu những tài sản đáng kể dưới dạng “vốn chết” – và không thể sử dụng. Ông hãy giải thích điều đó.

Ngay cả người nghèo cũng có tài sản. Người này có bò, còn người khác lại có lợn. Anh này có xe đạp, anh kia lại có mô tô, xe buýt, xe tải, xí nghiệp nhỏ hay ngôi nhà. Hầu hết mọi người đều có một thứ gì đó. Nếu họ không có thứ gì, họ sẽ bị chết đói. Và hầu hết mọi người ở các nước đang phát triển đều không nghèo khổ đến mức đó. Tôi không nói là có một số người thực sự nghèo khổ – người nghèo nhất trong những người nghèo. Nhưng hầu hết người dân đều đang tham gia vào công cuộc xây dựng thành phố, vào các hoạt động kinh tế và ít hay nhiều vẫn tồn tại được.

“Vốn chết” là tất cả tài sản người dân sở hữu nhưng không mang được vào đời sống, do đó, không thể đổi thành vốn tài chính hay vốn đầu tư. Với hầu hết người dân Peru, Ai Cập, Nga hay Trung Quốc, ngôi nhà là nơi họ cư trú khi giá lạnh hay mưa bão. Nó mang giá trị vật chất. Nhưng nếu anh là người Mỹ, ngôi nhà còn mang rất nhiều giá trị khác. Ví dụ, nó được sử dụng để làm tài sản thế chấp. Vì thế, khi anh sống trong ngôi nhà của anh, nó còn đồng thời tạo ra giá trị cho anh trên thị trường tài chính. Nó có một cuộc sống khác song song. Thông qua giấy chứng nhận quyền sở hữu, anh có thể mang nó đi đầu tư vì nó thực sự có giá trị đầu tư.

Và ngôi nhà của anh còn mang địa chỉ của anh. Nếu anh biết rằng de Soto sống ở đây, anh sẽ có thể cấp năng lượng và điện cho ông ta, hoặc anh thu thuế hay mời ông ta làm đối tác kinh doanh. Ngày nay, tới 80 đến 90% người dân Peru và Ai Cập không có địa chỉ được pháp luật thừa nhận, vậy làm sao chúng có thể có cuộc sống khác song song.

Chúng ta đang bắt đầu hiểu tại sao luật sở hữu tài sản không chỉ cho phép anh khiếu nại về quyền sở hữu mà còn giúp anh giải phóng chúng và tạo ra giá trị thặng dư – điều mà Marx gọi là vốn. Ngược lại, khi vốn không được sinh ra theo cách đó, Adam Smith sẽ gọi thuật ngữ là “vốn chết”.

Trên thực tế, chỉ riêng Ai Cập, người nghèo có 240 tỷ đô la dưới dạng bất động sản, tương đương với tổng đầu tư vào Ai Cập trong hơn 200 năm qua, bao gồm cả đầu tư vào kênh đào Suez và đập Aswan. ở Peru, người nghèo nắm trong tay gần 70 tỷ đô-la, tương đương với giá trị xuất khẩu của Peru trong 20 năm tới và ít nhất bằng 6 lần giá trị thị trường chứng khoán. Còn ở Mexico, con số đó tương đương với 320 tỷ đô la đất đai và công việc kinh doanh, tức là lớn hơn rất nhiều lần giá trị dầu mỏ của nước này, cùng với xi-măng, và tất cả các doanh nghiệp quốc doanh cũng như tư nhân gộp lại. ở các nước đang phát triển, tổng giá trị bất động sản của người nghèo nhưng không được hệ thống luật sở hữu bảo vệ – theo thống kê ít nhất là 9.3 nghìn tỷ - gấp 2 lần lượng cung tiền lưu thông ở Hoa Kỳ.

ở những nước đang phát triển, người dân nghèo đang sở hữu tài sản theo cách người Châu Âu và Bắc Mỹ hàng trăm năm trước đây – tức là, không có quyền sở hữu. Những tài sản của họ chỉ được ràng buộc và bảo vệ bằng các hợp đồng xã hội địa phương – thoả thuận trong nội tộc hay với hàng xóm theo các luật lệ bất thành văn – và do đó, hàng hoá của họ chỉ có thể trao đổi, buôn bán trong một phạm vi nhỏ. Do đó, điều kiện tất yếu và tiên quyết để phát triển – phân chia lao động trong thị trường rộng lớn hơn, điểm mấu chốt cho vấn đề toàn cầu hoá - đã không xẩy ra ở các quốc gia đang phát triển. Ví dụ, giữa một số khu vực lân cận nhất định ở Lima, ở Cairo và Bắc Kinh, anh có thể buôn bán và trao đổi hàng hoá. Nhưng anh không thể tiến hành giao dịch ở một cấp độ quốc gia, vì thế họ thậm chí không thể toàn cầu hoá nội tại ở cấp độ quốc gia.

Như vậy là theo ông, họ thiếu quyền sở hữu tài sản?

Vâng, điều đó là chính xác. Hay nói cách khác, họ cần phải có những chứng từ công nhận quyền sở hữu theo dạng chuẩn, bằng giấy và lưu thành hồ sơ, có hiệu lực ít nhất ở cấp độ quốc gia. Bằng cách đó, họ có thể dùng giấy tờ để kinh doanh buôn bán.

Hãy nói cho tôi biết, khi anh sở hữu một phần hãng Motor General hoặc tập đoàn Microsoft, anh sẽ mang chúng theo như thế nào? Trong một chiếc va li nhỏ hay trong một hộp đựng thuốc? Hay mảnh giấy chứng thực sở hữu của anh? Và một phần quyền sở hữu đó cũng có thể là khoản anh nợ tôi, vì thế, nó là trái phiếu, và tôi có thể giao dịch trên thị trường thứ cấp để có lợi nhuận. Đó chính là kinh tế thị trường. Và đó chính là điều mà ngày nay, phần lớn người dân trên toàn thế giới không thể làm được.

Và ở các nước đang phát triển, khi người dân đòi quyền sở hữu tài sản, họ thường thất bại. Vì nếu anh muốn đăng ký sở hữu một đụn cát ở Ai Cập, ngoại ô Cairo, anh sẽ phải mất đến 17 năm cho những thủ tục hành chính và ở Manila, con số mà chúng tôi nghiên cứu được là khoảng 54 năm.

Liệu nguyên nhân có phải do thủ tục hành chính ở những nước này thực sự kém cỏi?

Chúng tôi đã tìm ra nguyên nhân không chỉ do có quá nhiều thủ tục hành chính. Vấn đề còn nằm ở luật pháp quá tồi. ở Peru, khi chúng tôi bắt đầu điều tra theo kiểu rất sơ khai, bằng cách đếm xem trong một năm, một quốc gia nghèo đang phát triển chỉ với 25 triệu dân sẽ ban hành bao nhiêu quy tắc luật? Và câu trả lời là: 28.000.

Trong các chế độ dân chủ mà mọi chức năng đều vận hành tốt, chi phí cho các quy tắc và luật lệ chủ yếu dành cho hệ thống ra quyết định và có sự tự hiệu chỉnh. Nhưng ở các quốc gia đang phát triển, do luôn luôn thiếu các hệ thống chính trị và hành chính, họ không thể thu được những thông tin phản hồi có khả năng so sánh được. Và kết quả là anh chỉ thu được hàng núi văn bản, giấy tờ, những thứ đang thực sự chia xã hội làm 2 phần. Một phần luật lệ được áp dụng cho thiểu số giới tinh hoa của xã hội, đảm bảo quyền sở hữu cho nhà cửa và công việc kinh doanh của họ. Còn lại phần lớn dân số không có sự hậu thuẫn về mặt luật pháp để đảm bảo cho tài sản chủa mình.

Hơn 40 năm về trước, phần lớn dân nghèo ở các nước đang phát triển sống ở những vùng xa thành thị. Nhưng 40 năm qua, những thành phố lớn như thủ đô Portau-Prince ở Haiti đã phát triển gấp 16 đến 17 lần so với trước đây. Còn hầu hết các thành phố đều tăng trưởng ít nhất từ 7 đến 8 lần. Cũng có rất nhiều điều được viết về những thành phố đang vươn lên này. Nhưng điều mà chúng tôi vừa khám phá ra là tác động của luật lệ đến sự tăng trưởng dân số một cách nhanh chóng này, mang dáng dấp của chủ nghĩa “apartheid tài sản” (chủ nghĩa phân biệt chủng tộc về tài sản).

Tôi sử dụng thuật ngữ “apartheid tài sản” bởi vì từ “apartheid” ám chỉ anh dùng hệ thống luật để phân biệt đối xử. Người dân nghèo không thể sống ở khu vực thị trấn, nơi luật lệ quá rõ ràng mà họ sống ở những vùng phụ cận. Mà các quy luật áp dụng cho vùng phụ cận, từ Manila cho tới Cairo, và Thành phố Mêhicô là hoàn toàn khác nhau. Như nhà lịch sử học người Pháp, Fernand Braudel đã nói, cũng giống như khi anh đặt một tấm kính chắn tách riêng một phần của thành phố - khu vực của các chính trị gia và những nhà chính trị – ngụ ý khu vực “phương Tây”. Khi đó, khu vực còn lại, chiếm 80 đến 90% dân số sẽ sống trong một rừng luật lệ được áp dụng chưa đúng và chính điều đó giữ người dân trong cảnh nghèo khổ.

ở các nước đang phát triển, chúng ta đã và đang cố gắng tạo ra một môi trường pháp lý thân thiện hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Nếu thực hiện được, điều đó sẽ rất tốt. Nhưng chúng ta cũng đã quên mất nhìn lại, liệu hệ thống pháp luật ở đây có cởi mở chào đón số lượng các nhà đầu tư ít ỏi, bởi vì bản thân người nghèo – như chúng ta đã thấy ở trên – còn thực sự có nhiều tài sản hơn các nhà đầu tư nước ngoài.

Điều mà chúng ta phải làm là lập nên một dạng cơ chế "hợp đồng"; trong đó, những văn bản, hồ sơ sẽ cho phép người nghèo huy động tất cả giá trị tài sản, nguồn nhân lực của họ đang được tích luỹ để tạo thành các quỹ dưới dạng đầu tư tài chính. Tất cả các quỹ đó chính là nguồn để tạo ra của cải.

Ông cực lực phản đối ý kiến cho rằng, sự thành công hay thất bại của kinh tế thị trường được quyết định bởi những khác biệt về văn hoá. Tại sao?

Nếu có một hệ thống pháp luật tốt, anh không cần phải có một hệ văn hoá thật đặc biệt. Hãy nhìn vào Hoa Kỳ mà xem. Họ thừa hưởng truyền thống của Anh quốc. Cho đến trước thế kỷ 19, khi họ quyết định chia California thành 800 phân khu – cũng tương tự đối với bang Texas - họ đã không đi theo luật lệ của Anh nữa. Hoa Kỳ đã ứng dụng ngay “luật của người dân”: nhân dân cần đất đai, đồng thời trốn chạy khỏi sự áp bức. Hoa Kỳ thiết lập ngay một hệ thống luật mới – không phải chỉ là luật thông thường mà là luật được quy định, như Đạo luật Trang trại – thành bộ luật chính.

Tôi nghĩ rằng lấy sự khác biệt về văn hoá để giải thích cho sự thành công hay thất bại của kinh tế thị trường đã được thừa nhận rộng rãi, một phần vì không ai có cách giải thích nào tốt hơn, như câu khẳng định “Anh phải giống người Anglo-Saxons”. Giờ đây, chúng ta đã tìm thấy một câu trả lời có ích hơn. Ở Hoa Kỳ, để có một tờ giấy chứng nhận quyền sở hữu chuyển một tài sản thành vốn luân chuyển và hợp đồng có hiệu lực: tất cả chỉ cần một vài giờ hoặc một vài ngày. Còn ở những quốc gia như đất nước tôi, đó là vấn đề của hàng thế kỷ. Và chúng ta đã xác định được sự khác biệt cơ bản. Luật pháp là thứ mà chúng ta có thể sửa đổi bởi vì chúng ta có thể chỉ ra điểm còn vướng mắc nằm ở đâu.

Theo ông, điều gì sẽ xẩy ra nếu mọi người bắt đầu thực hiện những điều mà ông đã đề cập trong cuốn sách “Sự bí ẩn của vốn”?

Chúng ta sẽ có nhiều nước giống như Hoa Kỳ hơn, nơi mọi người không được bỏ vốn đủ. Chúng ta sẽ có nhiều quốc gia giống như Tây Âu hơn, nơi mà tài sản không cấp vốn đủ. Chúng ta sẽ đưa tài sản thành vốn luân chuyển trong hệ thống. Và chúng ta sẽ đưa vô số thông tin như: ai sở hữu cái gì và quyền nào được bán, còn quyền nào thì không, và chúng ta sẽ biết tài sản nào có thể kết hợp với tài sản khác để tạo ra của cải.

Nó sẽ thực sự là cuộc cách mạng.

Tất nhiên! Đó chính là điều mà Hoa Kỳ đã và đang làm hơn 200 năm qua.

Tài liệu tham khảo

Globalist Bookshelf. "The Mystery of Capital" Left Out of the Capitalism Game By Hernando de Soto. Saturday, July 07, 2001.

The Hidden Architecture of Capitalism By PETER COY. Coy is associate economics editor.

The Rules of the Capitalist Game. Hernando de Soto explains how to make capitalism work for everybody. Interview by Michael Cromartie. 1/2001.

Why the World's Poor Stay That Way-THE MYSTERY OF CAPITAL: Why Capitalism Triumphs in the West and Fails Everywhere Else By Hernando de Soto Basic Books.






[1] Phóng viên Michael Cromartie của Viện Chính sách công ở Washington, D.C đã trò chuyện với De Soto khi ông đến thăm viện này vào 1/2001.

dow load: : http://www.box.net/shared/yt4mvlmsgg


Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2008

Cuốn Xã hội Mở (Cải cách Chủ nghĩa tư bản Toàn cầu)



" Bạn đọc cầm trên tay cuốn sách thứ tám [1] của tủ sách SOS. Cuốn Xã hội Mở [Cải cách Chủ nghĩa tư bản Toàn cầu] của George Soros. Đây là cuốn thứ hai của Soros trong tủ sách. Ý kiến về Soros rất khác nhau. Có người lên án ông như kẻ thao túng thị trường chứng khoán, kẻ gây ra khủng hoảng tài chính, kẻ tham gia lật đổ. Nhiều người ca ngợi ông như một thiên tài tài chính, người làm từ thiện lớn nhất hành tinh. Ông cho mình là người duy nhất trên thế giới đi ngăn chặn khủng hoảng một cách có mục đích và có tổ chức. Cuốn sách này sẽ giúp bạn đọc hiểu kĩ hơn về ông và về các ý tưởng của ông. Người ta nói nhiều về hội nhập kinh tế về nền kinh tế toàn cầu. Cơ chế thị trường đã thành công xuất sắc trong giải phóng tài năng kinh doanh và tạo ra của cải. Chủ nghĩa tư bản dựa vào cơ chế thị trường. Nếu chỉ dựa vào cơ chế thị trường và nhấn mạnh thái quá đến các giá trị thị trường, chủ nghĩa tư bản không thể đảm bảo tự do, dân chủ, và pháp trị; có thể, và nó đã dẫn đến những thảm hoạ như hai cuộc Chiến tranh Thế giới, các cuộc khủng hoảng tài chính. Vì sao chúng xảy ra? Làm sao có thể tránh được những thảm hoạ như vậy, hay chí ít làm nhẹ bớt tác động tai hoạ của chúng? Đó là những vấn đề Soros quan tâm. Và xã hội mở là một xã hội có thể làm được điều đó. Khái niệm “Xã hội mở” được Henri Bergson dùng đầu tiên năm 1932, và Karl Popper phát triển và làm cho khái niệm được biết đến rộng rãi trong công trình triết học của ông xuất bản năm 1943. Soros chịu ảnh hưởng mạnh của Karl Popper. Cả trên lĩnh vực thực tiễn và triết lí ông không ngừng cổ vũ cho xã hội mở. Theo Bergson, xã hội được tổ chức theocác nguyên lí bộ lạc là xã hội đóng; xã hội được tổ chức theo các nguyên lí phổ quát là xã hội mở. Theo Popper, xã hội mở bị đe doạ bởi tất cả các hệ tư tưởng cho là mình có chân lí cuối cùng. Soros đồng ý. Các hệ tư tưởng bộ lạc không còn được coi là cơ sở để tổ chức xã hội hiện đại, và sau Chiến tranh Thế giới II và nhất là sau 1989, các hệ tư tưởng cho là mình có chân lí cuối cùng đã mất uy tín, chủ nghĩa tư bản hiện đại là biểu hiện bị méo mó về xã hội mở. Xã hội mở, theo Soros, dựa vào sự thừa nhận rằng chân lí cuối cùng là ngoài tầm với của con người, dựa vào tính có thể sai của con người, dựa vào sự thừa nhận là những kiến trúc do con người tạo ra nhất thiết có sai sót một cách cố hữu; nó là một xã hội dựa trên các nguyên lí phổ quát song không bao giờ hoàn hảo, luôn mở ra cho sự cải thiện. Ông phát hiện ra sự không đồng bộ giữa nền kinh tế toàn cầu và dàn xếp chính trị toàn cầu, sự tồn tại của các quốc gia có chủ quyền. Ông kiến nghị lập liên minh xã hội mở để thúc đẩy phát triển xã hội mở ở từng nước và đặt nền móng cho một xã hội mở toàn cầu. Cuốn sách có thể bổ ích cho các học giả, các nhà hoạch định chính sách, và tất cả những ai quan tâm đến những vấn đề chính trị và kinh tế thế giới."

Cuốn xã hội mở bác có thể tải tại đây

THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ




HUYỀN THOẠI TRƯƠNG LƯƠNG


Cách đây hai ngàn một trăm tám mươi năm, vua nhà Tần là Doanh Chính thống nhất Trung Quốc, tự hiệu là Tần Thủy Hoàng, ngụ ý muốn bảo cho người đời hay rằng giòng họ nhà ông sẽ đời đời cai trị Trung Quốc. Nhưng chưa trọn mười lăm năm và truyền nhau chưa hết hai đời thì nhà Tần đã bị lật đổ. Huyền thoại Trương Lương ra đời trong khung cảnh lịch sử này. Trương Lương là con cháu dòng dõi của nước Hàn (một trong sáu nước bị nhà Tần thôn tính.) Cha ông của Trương Lương đã năm đời làm tể tướng nước Hàn. Khi Hàn bị Tần diệt, Trương Lương liền đem hết sản nghiệp của mình đi tìm một thích khách để ám sát Tần Vương. Đến nước Triều Tiên làm Lương hải Quân, Trương Lương gặp một dũng sỹ với sức muôn người không địch, có thể múa đôi chùy nặng chừng năm trăm cân nhẹ như người thường cầm hai chiếc quạt.Trương Lương cùng người dũng sỹ liền về Bác Lãng Sa, đón Tần Thủy Hoàng đi săn ở đây mà giết. Kết quả quả chùy ngàn cân đã đập nát chiếc xe giá không có Tần Thủy Hoàng ngồi trong. Chết hụt, Tần Thủy Hoàng ra lệnh tầm nã Trương Lương. Khắp nơi mật vụ bủa lưới. Việc làm kinh thiên động địa kia khiến cho nhân dân khắp nơi tán tụng. Trương Lương còn trẻ lại làm việc động trời nên chỉ trong ít ngày Trương Lương đã trở thành một vị thiếu niên anh hùng, người của thần thọai trong đầu óc nhân dân. Nhưng trước mắt nhà chính trị, trước mắt những con người lão luyện giang hồ thì công việc ném chùy ở Bác Lãng Sa của Trương Lương chẳng qua chỉ là một hành vi vung kiếm vươn người lên mà quyết đấu của kẻ thất phu, chỉ là một thứ anh hùng chủ nghĩa cá nhân thóat ly quần chúng không có tổ chức. Với hành vi đó thật khó lòng mà lật đổ cả một bộ máy bạo ngược của nhà Tần, khó lòng đương nổi với cuộc cách mạng có trăm đầu ngàn mối. Tuy nhiên, họ cũng nhận là cái phẩm chất thanh niên của Trương Lương thật là đáng quý. Tấm lòng yêu chánh nghĩa nhiệt thành, lương tâm sáng rọi muốn cứu đời, cứu người là những chất liệu nếu đem rèn đúc với sự hiểu biết nữa thì phải thành thứ vũ khí đạp đổ bạo Tần. Trong số những nhà chính trị lão luyện ấy có một người tên là Hoàng Thạch Công. Hoàng Thạch Công nhận biết mình ở vào cái thế "thế thời bất ngã dữ, lực bất tòng tâm", khả năng mình chỉ là khả năng ẩn dật một nơi để chỉ đạo cách mạng, nhưng không thể trực tiếp tham gia cách mạng. Khát vọng của Hoàng Thạch Công là tìm được một anh tài trong thiên hạ để mà truyền thụ, để mà giáo dục. Khát vọng ấy cũng chẳng khác gì lúc Trương Lương mong tìm thấy người dũng sỹ. Lại nói về Trương Lương từ khi có lệnh tầm nã, chàng phải trốn tránh ngày đêm, mai danh ẩn tích, thay tên đổi họ để đi tuốt mãi xuống phía Nam. Tài lẩn tránh của Trương Lương thần diệu thật, nhưng tài ấy mới chỉ che nổi mắt đám mật vụ và nhất định không thóat nổi con mắt tinh đời của Hoàng Thạch Công. Từ lúc chàng đến Hạ Bì, mỗi lần có việc đi ngang qua chiếc cầu bên con sông nhà ở Hạ Bì, thì nơi đây có một ông lão ngồi câu cá, vuốt chòm râu bạc ngắm con người tài hoa công tử Trương Lương. Ông lão gật gù thiết lập kế họach đầu tiên đối với Trương Lương là bẻ gẫy tâm lý kiêu ngạo của chàng, có hết kiêu ngạo mà ân cần học hỏi thì Trương Lương mới trở nên hữu dụng. Sẩm tối hôm đó, sương chiều mù trời, dưới sông nước cạn chảy trong veo. Trương Lương nét mặt trầm tư tản bộ ngắm cảnh, chàng chợt nhìn thấy ông lão vẫn ngồi câu cá đánh rơi chiếc dép xuống nước. Cũng vừa lúc ông lão cất tiếng gọi: này chú nhỏ nhặt cho ta chiếc dép kia. Nghe tiếng gọi xách mé Trương Lương giận vô cùng nhưng nghĩ lại ông già gân cốt chẳng được là bao nhiêu, hơn nữa sở dĩ ông ta thô lỗ chắc vì kém kiến thức, nên chàng trầm tĩnh bước xuống chân cầu nhặt dép. Đưa dép đến nơi chàng nghe thêm tiếng nữa chói tai: xỏ vào chân ta! Câu nói vô lễ lần này không làm cho Trương Lương ngạc nhiên nữa mà làm nổi dậy trong lòng chàng tính hiếu kỳ. Chàng ngoan ngoãn vâng lời. Công việc xong ông ta đứng phắt dậy đi thẳng không thèm buông nửa lời cảm tạ.Mấy ngày sau Trương Lương lại gặp ông lão ngồi câu ở đó, chưa kịp tỏ thái độ gì thì ông lão đã trỏ vào mặt chàng nói: Này chú, năm ngày nữa, đúng sáng sớm chú đến đây gặp ta. Y hẹn Trương Lương tới thật sớm, đã thấy ông lão có mặt ở đấy rồi. Vừa thấy mặt chàng ông lão đã quát mắng: Hẹn với lão sao nhà ngươi đến chậm như vậy? Nói xong ông quay ngoắt rảo bước và vói lại một câu: Hẹn năm ngày nữa cũng buổi sớm. Ngày hẹn tới Trương Lương dậy từ canh hai để sửa soạn, đến nơi gà vừa gáy tiếng đầu tiên nhưng vẫn không kịp vì ông lão đã có mặt tự bao giờ rồi. Bị mắng thêm lần nữa. Lần thứ ba Trương Lương quyết chí đến sớm hơn bằng cách chàng đến chờ ở nơi hẹn từ chập tối, ông lão mới hài lòng. Ông rút ở trong người ra một cuốn giấy cũ kỹ mà bảo với Trương Lương rằng: Con hãy về đọc kỹ cuốn sách này, đây là cuốn sách dạy làm thầy vua. Con cần nỗ lực trong mười năm, mười ba năm nữa ta sẽ gặp lại con nơi chân núi Cốc Thành miền Sơn Đông. Mười ba năm trôi qua, Trương Lương theo phò Lưu Bang tranh thiên hạ, có việc khẩn phải đi qua núi Cốc Thành, nhớ lời ước hẹn năm nào, Trương Lương có ý trông đợi ông lão, nhưng đợi đã nhiều ngày chẳng thấy ông lão đâu, chỉ thấy tảng đá vàng hình thù rất đẹp, Trương Lương chở tảng đá đem về lập miếu thờ. Mở chính sử Trung Quốc ra coi thì cái tên Hoàng Thạch Công không hề thấy ghi chép trong bất cứ cuốn sách nào. Ông xuất thân thế nào, tên thật và quê quán đều vắng lặng. Hoàng Thạch Công hoàn toàn là một huyền thọai, Hoàng Thạch Công chính là bản thân lịch sử hiển hiện thành người dã sử để tô điểm thêm cho cái tài an bang tế thế tột bậc của Trương Lương. Cuộc đời và sự nghiệp của Trương phải có Hoàng Thạch Công thì mới thành tựu được. Mười ba năm sau vụ ám sát Tần Thủy Hoàng là mười ba năm Trương Lương theo học thầy Hoàng Thạch Công, nhưng ông thầy đó lại không có thực. Vậy thì lời dạy trong mười ba năm ây đúng ra là lời dạy của lịch sử, của thực tiễn đấu tranh. Thắng trận Cai Hạ, giết Hạng Võ thu giang san về một mối xong, Trương Lương đã bỏ cuộc đời phú quý để vào rừng đi hái thuốc. Điều này nói rõ tâm chất Trương Lương vốn dĩ là con người lãng mạn không tưởng, tâm chất đương nhiên của một đệ tử thế gia.Cho nên lúc Tần diệt Hàn cái tâm chất lãng mạn không tưởng kia tất nhiên phải nhảy vào hành động chính trị bằng thái độ vô chính phủ (anarchiste), khủng bố (terrorisme). Lề lối tác loạn vô chính phủ và khủng bố không đủ khả năng để tiêu diệt guồng máy thống trị bạo Tần. Trương Lương thất vọng trốn xuống Nam rồi ở đây chàng gặp những đầu óc lão luyện giang hồ. Thể nghiệm bản thân và học hỏi những tư tưởng mới mẻ đầy thực tế, Trương Lương đã phát hiện thấy phương pháp diệt Tần. Lúc Trương Lương cúi xuống nhặt dép cho ông lão rồi quỳ xuống bỏ dép vào chân người lạ, chính là lúc mà Trương Lương đã từ bỏ hẳn cái học vô ích của mình từ trước đến nay, dứt khóat hẳn với cái thân phận danh gia tử đệ ra mặt đứng vào cái thế chính trị mới để lao vào cuộc đấu tranh thời đại của thân phận áo vải làm Hoàng Đế sau này là Lưu Bang. Cảnh ấy cũng tựa như cảnh Trifimo trong vở kịch Ciseraie (Tchekov) đánh chiếc xe troika dời bỏ khu rừng cũ để vào cuộc đời mới, cuộc đời mới của Trương Lương là trở nên một tay chính trị nhà nghề, thóat bỏ hẳn cái xác chính trị dũng sỹ trước kia.


Dow load Files: Thu doan chinh tri.rar

Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2008

Binh Pháp Tôn Tử

Binh Pháp Tôn Tử :: Tôn Vũ và Sơ lược về Binh pháp Tôn Tử

Tôn Vũ(LAC™) Nói đến các sách lược chiến đấu thì trên thế giới có không ít, nhưng không thể không nhắc đến “Thập Tam Thiên” (13 Chương) của “Tôn Tử Binh Pháp”. Vậy bạn biết gì về Tôn Tử Binh Pháp? Trong một đêm không gió… không mưa… không sương… không trăng sao… và đặc biệt là không ngủ (được)… Lắc đã ngồi nghiền ngẫm cuốn Tôn Tử Binh Pháp này và muốn giới thiệu cho mọi người biết những nét đặc sắc của Tôn Tử Binh Pháp. Cuốn sách mà ngày xưa là sách lận lưng của tướng soái xuất chinh còn ngay nay là cuốn sách gối đầu của các nhà tài phiệt, kinh doanh hàng đầu thế giới. Cuốn binh thư đầu tiên của thế giới, đúc kết những kinh nghiệm trận mạc của nhà quân sự hàng đầu thế giới: Tôn Vũ.

I. Tôn Vũ là ai?

Tôn Vũ (孫武 - pinyin: Sūn Wǔ), 554 - 496 trước Công Lịch, là người gốc nước Tề (Trung Hoa). Ông sinh ra trong thời loạn Xuân Thu Chiến Quốc (722 - 481 trước Công Lịch), đây cũng là thời kỳ ra đời của Khổng Phu Tử, hay còn gọi là Khổng Tử, học thuyết gia nổi tiếng với Nho học và Đạo Khổng tồn tại và phát triển ở các nước ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa cho tới tận ngày nay. Xuân Thu Chiến Quốc là giai đoạn mà chiến tranh và tư tưởng quân sự bao trùm gần như là tất cả.

Ngay trong tên gọi của ông, chữ Vũ có nghĩa là vũ khí, vũ lực. Ông đã làm quan đến chức Phá Sở Đại Nguyên Soái, quân sư cho vua Ngô Hạp Lư và đã lập được nhiều công lớn. Vì nước Ngô mà ông đã đem ba (03) vạn quân phá tan hai mươi (20) vạn quân của nước Sở để vào Sính Đô, làm cho các nước Tề, Tấn ở chung quanh phải khiếp sợ, đưa nước Ngô từ một tiểu quốc chư hầu trở thành một đại quốc chư hầu có thể xưng hùng xưng bá với 6 nước còn lại. Mặc dù là một nhà quân sự lỗi lạc nhưng quan điểm của Tôn Tử là hòa bình và thanh đạm. Do không ham công hầu, danh tướng mà ông đã về ở ẩn tại La Phù Sơn (núi La Phù), thuộc nước Ngô và viết nên Thập Tam Thiên (13 chương) Binh Pháp, còn gọi là Tôn Tử Binh Pháp (孫子兵法 - pinyin: Sun-tzu ping fa).

Tuy thời gian tham chiến không lâu nhưng những gì ông đã để lại cho đời có giá trị rất lớn và lâu dài.

II. Sơ lược về Tôn Tử Binh Pháp
Binh pháp Tôn T�

Binh pháp Tôn Tử là cuốn binh thư bằng tiếng Trung Quốc đầu tiên, được viết vào thế kỷ thứ 6 trước Công Lịch. Bao gồm 13 chương, mỗi chương là một khía cạnh khác nhau của chiến tranh quân sự, tập hợp các kỹ, chiến thuật trong đấu tranh. Có thể xem đây là một cuốn sách cổ xưa nhất về chiến thuật chiến tranh của thế giới. Cuốn sách đã được dịch thành 29 thứ tiếng và tạo được sức ảnh hưởng rất lớn về chiến thuật chiến tranh quân sự từ Đông sang Tây bán cầu. Thậm chí còn tạo ảnh hưởng đến thương mại và còn hơn thế nữa. Tôn Tử là người đầu tiên nhận thấy được tầm quan trọng của chiến thuật, kết hợp với các điều kiện, hoàn cảnh để tác động đến đối phương.

Năm 1782, cuốn sách lần đầu tiên được dịch sang tiếng Pháp, và đã gây ảnh hưởng rất mạnh mẽ cho Hoàng đế Napoleon. Nhà lý luận quân sự nổi tiếng người Anh, người đặt nền móng lý luận ”đại chiến lược” Lydern Hatill không chỉ tự mình dịch toàn bộ nguyên bản cuốn Tôn Tử Binh Pháp ra tiếng Anh mà ông còn viết thêm một quyển “Luận chiến lược” để dẫn giải và tường thuật lại. Hatill cho biết, trong tác phẩm quân sự của ông, giải nghĩa rất nhiều quan điểm tìm thấy qua nguyên bản cuốn Tôn Tử Binh Pháp từ hơn 2500 năm trước. Nó cũng góp phần hoạch định chiến dịch Bão Sa Mạc tại Kuwait năm 1991 của Quân Mỹ và NATO. Theo ghi chép, cuốn sách là gối đầu của các đại tướng, tướng quân nằm trong 10 đại tướng của Thế Giới qua các thời đại như Võ Nguyên Giáp, Trần Hưng Đạo (người đã viết ra Bình Thư Yếu Lược). Mao Trạch Đông và Joseph Stalin cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ cuốn sách này.

Nội dung của sách cũng đã được ứng dụng và rất thành công trong lĩnh vực thương mại và quản lý.

III. Tôn Tử đã cầm quân bao nhiêu lần ?

Trong bộ sử ký của mình, Tư Mã Thiên có viết về tài năng quân sự của Tôn Vũ (Tôn Tử) như sau: “Tôn Vũ phía tây đại phá nước Sở mạnh, phía Đông dẹp yên Tề, Tần uy danh lừng lẫy khắp chư hầu, làm tướng như thế thật khó ai so bì”. Quả thật trong 30 năm sự nghiệp quân sự của mình, Tôn Vũ đã lập nhiều chiến công hiển hách và luôn xứng đáng với những lời tôn vinh trong sử sách. Tuy nhiên có một vấn đề luôn gây ra sự tranh cãi kịch liệt từ trước đến nay đó là: rốt cuộc Tôn Vũ đã thân chinh chỉ huy bao nhiêu trận đánh. Vừa qua giới nghiên cứu lịch sử cổ đại Trung Quốc khi đã nghiên cứu, đối chiếu, tổng hợp, so sánh từ các sử liệu như: “Ngô việt Xuân Thu”, “Việt sắc thư”, “Tả truyện”, “Sử ký” đã đưa ra kết luận: Trong sự nghiệp quân dịch của mình, Tôn Vũ chỉ trực tiếp chỉ huy 5 trận đánh và chính 5 trận chiến “để đời” này đã góp phần đưa tên tuổi của ông bất hủ cùng thời gian.

* Lần chỉ huy thứ nhất: Xảy ra vào tháng 12 năm 512 trước công nguyên, khi đó Ngô Vương là Hạp Lư ra lệnh cho Tôn Vũ chỉ huy quân tiêu diệt 2 nước nhỏ là nước Chung Ngô và nước Từ. Trong lần cầm quân đầu tiên này, Tôn Vũ đã xuất sắc hạ gọn 2 nước trên đồng thời thừa thắng chiếm được đất Thư thuộc nước Sở lập công lớn được Ngô Vương ban thưởng.
* Lần chỉ huy thứ hai: Theo lệnh của Hạp Lư, năm 511 trước công nguyên, Tôn Vũ lại thống lĩnh ba quân cùng Ngũ Tử Tư, Bạch Hỷ đi chinh phạt nước Sở bởi lý do “Sở Vương từ chối không chịu trao thanh bảo kiếm Trạm Lô cho Hạp Lư”. Dưới quyền chỉ huy của Tôn Vũ quân Ngô đánh hai trận thắng cả hai, chiếm gọn 2 xứ Lục và Tiềm thuộc đất Sở.
* Lần chỉ huy thứ ba: xảy ra vào năm 510 trước công nguyên, lúc này giữa nước Ngô và nước Việt lần đầu tiên xảy ra cuộc chiến tranh quy mô lớn mà sử sách còn ghi lại đó là cuộc “Đại chiến Huề-Lý”. Trong cuộc chiến này lần đầu tiên Tôn Vũ đưa ra cách dụng binh “Quý hồ tinh bất quý hồ đa” trong đánh trận do vậy chỉ với 3 vạn quân với phép dụng binh tài tình của Tôn Vũ đã đánh bại 16 vạn quân nước Việt. (Ghi chú: nước Việt này không phải là Việt Nam của chúng ta, vì thời gian đó, chúng ta là nước Âu Lạc).
* Lần chỉ huy thứ tư: Vào năm 509 trước công nguyên xảy ra cuộc “đại chiến Dự Chương” giữa hai nước Ngô và Sở. Khi đó vua Sở sai con trai là công tử Tử Thương và công tử Tử Phàm dẫn đại quân tiến đánh nước Ngô, nhằm báo thù nỗi nhục mất đất năm xưa. Một lần nữa Ngô Vương Hạp Lư lại giao cho Tôn Vũ cầm quân chống giặc. Lần này Tôn Vũ khôn khéo vòng tránh đội quân chủ lực của công tử Thường, dùng lối đánh vu hồi tập kích doanh trại bắt sống công tử Phàm, quân Sở từ thế mạnh, chuyển sang yếu cầm cự chưa đầy một tháng phải rút chạy về nước.
* Lần chỉ huy thứ năm: Vào ngày 18-11-506 trước công nguyên, 2 nước Ngô-Sở một lần nữa xảy ra chiến tranh, sử sách gọi đây là “cuộc chiến Bách Cử”. Đây là cuộc chiến lớn nhất trong lịch sử 2 nước. Lần này quân Sở huy động 25 vạn quân tiến đánh nước Ngô, khí thế báo thù rất sôi sục. Theo kế của Tôn Vũ và Ngũ Tử Tư, vua Ngô bí mật liên kết với 2 nước nhỏ là Đường và Thái làm thành liên minh chống Sở. Khi tác chiến, Tôn Vũ triệt để lợi dụng địa hình thuận lợi của 2 nước “đồng minh” để triển khai chiến thuật “Khống chế chính diện”, “Tập kích vu hồi mạn sườn” của mình. Sau 5 lần giao chiến với quân Sở, Tôn Vũ đều giành thắng lợi. Cuối cùng 3 vạn quân Ngô đã phá tan 25 vạn quân Sở tiến vào kinh đô nước Sở buộc Sở vương phải tháo chạy.

Với 5 trận đánh “để đời” này, uy danh và tài thao lược quân sự của Tôn Vũ (Tôn Tử) lừng lẫy khắp thiên hạ. Thêm vào đó là bộ “Tôn Tử Binh Pháp” dài 13 thiên bất hủ của ông đã khiến cho tên tuổi của Tôn Vũ nổi tiếng khắp thế giới cho tới ngày nay


Download free ebook Binh phap ton tu

Chủ nghĩa tư bản phiên bản 3.0


Nguyễn Đình Huy dịch
Nhà xuất bản trẻ

“ Trong Chủ nghĩa tư bản Phiên bản 3.0, Peter Barnes biện hộ cho cộng sản một cách thẳng thắn và dứt khoát. Đây là một cuốn sách cần thiết về một chủ đề hệ trọng”.
(Bill McKibben)

Công sản - những tạo phẩm của thiên nhiên và xã hội mà chúng ta cùng thừa kế và có bổn phận giữ gìn cho con cháu - đang bị phong tỏa. Chủ nghĩa tư bản phiên bản 2.0 đã toàn cầu hóa vớt sự thao túng của các Công ty - đang nhanh tay phung phá di sản chung này. Nay Peter Barnes đưa ra một giải pháp: bảo vệ công sản bằng cách trao cho công sản những quyền sở hữu và những thể chế quản lý hữu hiệu.

Barnes cho thấy chủ nghĩa tư bản - tựa như một máy tính - hoạt động nhờ một hệ điều hành. Hệ điều hành hiện nay của chủ nghĩa tư bản trao quá nhiều quyền hành cho những Công ty chỉ lo tối đa hóa lợi nhuận xâu xé công sản và phân phát hầu hết lợi nhuận cho một thiểu số rất nhỏ. Còn Chính phủ - trên lý thuyết có nhiệm vụ bảo vệ công sản - lại thường xuyên trở thành công cụ của chính các Công ty đó.

Barnes đề nghị một hệ điều hành đã được chỉnh sửa - Chủ nghĩa tư bản Phiên bản 3.0 - để bảo vệ công sản. Phát kiến lớn nhất của ông chính là quỹ tín thác công sản, một thực thể pháp nhân theo cơ chế thị trường có thẩm quyền hạn chế việc sử dụng các công sản khan hiếm thu tiền thuê và trả cổ tức - dưới hình thức tiền mặt và lợi ích sử dụng - cho tất cả mọi người.

Trong tầm nhìn của Barnes, một loạt quỹ tín thác công sản sẽ thể chế hóa các nghĩa vụ của chúng ta đối với các thế hệ tương lai, đồng bào và thiên nhiên. Một khi được hình thành, các quỹ tín thác đó sẽ sử dụng thị trường và quyền sở hữu để tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho mọi người.

Chủ nghĩa tư bản Phiên bản 3.0 đề ra một giải pháp thực tế cho hệ điều hành đang bị lỗi của chủ nghĩa tư bản hiện nay.


MỤC LỤC

Lời mở đầu
Lời cảm ơn

PHẦN I: VẤN ĐỀ

Chương 1: Đã đến lúc nâng cấp
Chương 2: Lược sử Chủ nghĩa tư bản
Chương 3: Những hạn chế của Chính phủ
Chương 4: Những hạn chế của tư hữu hóa

PHẦN II: MỘT GIẢI PHÁP

Chương 5: Tái tạo công sản
Chương 6: Người nhận ủy thác quản lý công trình thiên nhiên
Chương 7: Những quyền đương nhiên có phổ quát
Chương 8: Chia sẻ văn hóa

PHẦN III: BIẾN THÀNH HIỆN THỰC

Chương 9: Xây dựng khu vực công sản
Chương 10: Những việc bạn có thể làm


LỜI MỞ ĐẦU

Tôi là một doanh nhân. Tôi tin rằng xã hội nên tưởng thưởng cho những sáng kiến có hiệu quả bằng lợi nhuận. Đồng thời tôi biết rằng các hoạt động kiếm lời cũng phát sinh tác hại. Chúng gây ô nhiễm, chất thải, bất bình đẳng, lo lắng và không ít hoang mang về mục đích cuộc đời.

Tôi cũng là người theo đường lối tự do, theo nghĩa tôi không phản đối việc Chính phủ đóng một vai trò trong xã hội. Tuy nhiên, lịch sử đã làm tôi tin rằng Chính phủ dân cử không thể bảo vệ đúng mức quyền lọ của thường dân, chứ chưa nói đến quyền lợi của các thế hệ tương lai, các hệ sinh thái và các chủng loài ngoài con người. Lý do là Chính phủ hầu như luôn luôn - mặc dầu không phải mọi lúc - đặt quyền lợi của các Công ty tư nhân lên hàng đầu. Đây là một trục trặc hệ thống của nền dân chủ tư bản, không phải chỉ là vấn đề bầu chọn lãnh đạo mới.

Nếu bạn cùng có những cảm nhận như trên, có lẽ bạn cũng sẽ cảm thấy hoang mang mất tinh thần như tôi gần đây. Nếu Chủ nghĩa tư bản như chúng ta biết bị sai lỗi căn cơ như vậy và Chính phủ không phải là người cứu vớt, vậy đặt hy vọng vào đâu?

Tôi thấy đây quả là một trong những vấn nạn lưỡng nan lớn của thời đại chúng ta. Suốt bao năm Phe Hữu vẫn nói - đúng ra là la lên - rằng Chính phủ vốn đã mắc khuyết tật nên chỉ có tư hữu hóa, bãi bỏ quy định và cắt giảm thuế mới cứu được chúng ta. Cũng suốt chừng ấy năm, Phe Tả một hai cho rằng thị trường vốn sẵn khuyết tật nên chỉ có Chính phủ mới cứu được chúng ta. Vấn đề là ở chỗ cả hai phe đều nửa đúng, nửa sai. Cả hai đều đúng khi cho rằng thị trường và Nhà nước đều mắc khuyết tật và cả hai đều sai khi cho rằng có thể tìm sự cứu rỗi ở một trong hai lĩnh vực đó. Nhưng nếu như vậy thì chúng ta phải làm gì đây? Dường như đang thiếu một loạt những thể chế có thể giúp được chúng ta?

Tôi bắt đầu nghiền ngẫm về vấn đề khó xử này cách đây mười năm sau khi nghỉ việc ở Working Assets về hưu, một Công ty tôi đồng sáng lập vào năm 1982. (Working Assets cung cấp các dịch vụ điện thoại và thẻ tín dụng để lấy tiền tài trợ trực tiếp cho các nhóm phi lợi nhuận đang hoạt động vì một thế giới tốt đẹp hơn). Thoạt đầu tôi tập trung suy nghĩ về sự thay đổi khí hậu do việc con người thải ra các loại khí cản nhiệt. Một số nhà phân tích coi đây là một "bi kịch của công sản " Khái niệm này được phổ biến bởi nhà sinh học Garrett Hardin. Ông cho rằng con người sẽ mãi thâm dụng của chung (công sản) để thu tư lơi. Tôi lại thấy vấn đe đó là hai bi kịch chứ không phải một: trước hết là một bi kịch của thị trường vì thị trường không thể nào hạn chế được những quá trớn của chính nó, sau đó là một bi kịch của Chính phủ vì Chính phủ không thể bảo vệ được khí quyển bởi các Công ty gây ô nhiễm thì rất quyền lực mà các thế hệ tương lai lại đâu có bỏ phiếu được.

Cách nhận định tình hình này dẫn đến một giả thuyết: nếu công sản là một nạn nhân của sự bất lực của thị trường và Chính phủ chứ không phải là một nguyên nhân gây nên sự tự hủy diệt, giải pháp có lẽ ở chỗ củng cố công sản. Nhưng củng cố làm sao? Thường hầu như ai cũng thấy rằng rất khó quản lý công sản vì không ai thực sự sở hữu công sản. Nếu Công ty Quản lý Chất thải Waste Management Inc. sở hữu khí quyển, hẳn họ sẽ thu phí những ai xả khí thải, giống như họ thu phí đổ rác vào các bãi chôn rác. Nhưng do không ai có quyền sở hữu đối với khí quyển nên khí thải cứ việc xả không hạn chế và miễn phí.

Dĩ nhiên có một lý do tại sao không ai có quyền sở hữu khí quyển. Xưa nay không khí thừa thãi nên chẳng việc gì phải sở hữu. Nhưng bây giờ hình ảnh đã khác. Bầu trời bao la không còn thênh thang như trước nữa. Chúng ta đã xả đầy vào đó những loại khí vô hình đang làm thay đổi những mô hình khí hậu vốn rất quen thuộc với chúng ta và các chủng loài khác. Trong bối cảnh mới này, khí quyển đang trở thành một tài nguyên khan hiếm, nên có người sở hữu là điều tốt.

Những ai nên sở hữu khí quyển? Câu hỏi này đã trở thành một loại công án Thiền đối với tôi, một băn khoăn tưởng chừng vô thưởng vô phạt nhưng nếu suy ngẫm sẽ mở ra nhiều cánh cửa không ngờ. Tôi cân nhắc khả năng thành lập một doanh nghiệp sở hữu bầu trời, hoạt động vì lợi nhuận, với mục đích cứu hành tinh, nói cho cùng trước đây tôi đã ăn nên làm ra nhờ làm điều tốt lành. Khi thấy ý tưởng đó không ổn, tôi tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu chứng ta, mọi người trong xã hội, thành lập một quỹ tín thác để quản lý khí quyển thay cho các thế hệ tương lai, còn các công dân ngày nay chỉ là những người thụ hưởng ăn theo bầu khí quyển đó. Một quỹ tín thác như vậy sẽ làm chính cái điều mà Waste Management Inc. sẽ làm nếu họ sở hữu bầu trời: thu phí những ai xả khí thải vào kho chứa đang teo dần của mình. Gây ô nhiễm sẽ phải trả nền nhiều hơn và vì vậy ô nhiễm sẽ giảm dần. Tất cả điều này sẽ xảy ra ngay khi bắt đầu trao giấy chứng nhận sở hữu cho quỹ tín thác mà không cần Chính phủ phải nhúng tay vào. Nhưng nếu quỹ tín thác này - chứ không phải Waste Management Inc hoặc một Công ty nào khác - sở hữu bầu trời sẽ có một bổng lộc tuyệt vời: mỗi người dân Mỹ sẽ được trả một khoản cổ tức hàng năm.

Dự tưởng này đã biến thành một đề án có tên là quỹ tín thác bầu trời và đã đạt được một số thành công về mặt chính trị. Nó cũng được dùng làm tâm điểm cho những suy tưởng rủa tôi về công sản, từ đó cuốn sách này ra đời.

Hành trình tìm hiểu của tôi

Quá trình tìm hiểu làm nền cho cuốn sách này bắt đầu từ lâu trước khi tôi thành lập Working Assets. Hồi còn nhỏ, tôi giúp ba tôi tính toán số liệu cho một số sách ông viết về thị trường chứng khoán. Sau này khi làm phóng viên cho tờ Newsweek và The New Republic, tôi viết hàng chục bài báo về các vấn đề kinh tế. Nhưng việc học kinh tế của tôi chỉ thực sự bắt đầu khi tôi ở vào tuổi ba mươi sau một cơn khủng hoảng tuổi trung niên, bỏ nghề báo và lao ngay vào nghiên cứu Chủ nghĩa tư bản.

Lúc ấy tôi có nhiều động cơ cùng lúc. Một mặt, tôi đã chán viết lách, cần tiền, và không muốn làm thuê cho người khác. Mặt khác, tôi muốn xem thử liệu những ý tưởng tôi đã lĩnh hội có ăn nhập gì với thực tế không. Tôi đã bi ảnh hưởng rất nhiều bởi các tác phẩm của nhà kinh tế học người Anh E. F. Schumacher. Trong cuốn Small Is Beautiful xuất bản năm 1973, ông lập luận rằng chủ nghĩa tư bản trật khớp một cách nguy hiểm với cả tự nhiên lẫn tâm thức con người. Giải pháp ông đề ra là một nền kinh tế gồm những doanh nghiệp quy mô nhỏ, thường do nhân viên làm chủ, và sử dụng công nghệ sạch.

Ghi tâm quan điểm của Schumacher, tôi bắt tay hành động ngay. Cùng với năm người bạn, tôi thành lập một Công ty năng lượng mặt trời do các nhân viên đồng sở hữu. Công ty phát triển mạnh cho đến khi những thay đổi về luật thuế xóa sổ ngành công nghiệp non trẻ này vào năm 1980. Lúc ấy thì tôi đã dấn khá sâu vào một sự nghiệp thứ hai kéo dài 20 năm, trong thời gian đó tôi thành lập các quỹ đầu tư tập thể và các Công ty điện thoại, có chân trong Hội đồng quản trị rủa các Ngân hàng và hãng sản xuất, và đầu tư vào vô số lĩnh vực kinh doanh khác. Tất cả công việc kinh doanh kể trên đều có chung một điểm là vừa kiếm lời vừa cải thiện thế giới. Những người quản lý đều hết mình đi theo định hướng đa mục nêu: họ biết phải làm ăn có lời nhưng cũng phải theo đuổi những mục tiêu xã hội và môi trường.

Phần lớn thời gian đó tôi giữ chức Chủ tịch của Working Assets. Công ty này tài trợ 1% tổng doanh số của mình cho các nhóm phi lợi nhuận hoạt động để cải thiện thế giới. Những khoản tài trợ này được trích tứ tổng doanh thu chứ không phải từ lãi ròng, Công ty vẫn tài trợ dù làm ăn có lời hay không (và nhiều năm chúng tôi không có lời). Tôi nhận ra rằng nếu Công ty nào đóng góp 1% doanh số cho xã hội thì cũng chỉ là một khoản nhỏ vô cùng vì các doanh nghiệp lấy đi rất nhiều từ xã hội mà không phải trả nền. Chẳng hạn, chúng ta có thể sản xuất hàng hóa gì cho được nếu không có những tặng phẩm miễn phí của thiên nhiên? Và làm sao chúng ta có thể bán được những hàng hóa đó nếu không nhờ cơ sở hạ tầng rộng lớn của xã hội gồm luật pháp, đường sá, tiền bạc... Tôi vẫn nghĩ chỉ nội việc được là một Công ty trách nhiệm hữu hạn thì chúng ta đã phải trích trả 1% cho đặc quyền đó.

Tôi cũng có ý nghĩ rằng bằng cách chứng tỏ cho các Công ty khác thấy là họ có thể trích trả 1% từ doanh số mà vẫn sống được, Working Assets có thể khởi xướng một phong trào nhằm cải thiện thế giới. Ý nghĩ này hầu như không tưởng, nhưng không phải hoàn toàn phi lô-gíc. Tôi cho rằng 1% trích trả này cũng giống như một gen biến đổi được thêm vào DNA của chúng ta. Nếu tồn tại được trên thị trường, nó có thể lan rộng. Tại các khóa định hướng cho nhân viên, tôi đã từng nói rằng Công ty của chúng tôi đang tìm cách làm sao cho những gen biết sống trách nhiệm với xã hội trở thành loại gen chủ đạo của doanh nghiệp trong tương lai.
Cuối cùng, sau khi rời Working Assets về hưu năm 1995, tôi bắt đầu suy nghĩ về cái thế giới kinh doanh từ đó tôi xuất thân. Tôi đã thử nghiệm hệ thống này trong vòng hai mươi năm, cố gắng hết sức đưa nó đi theo định hướng đa mục tiêu. Tuy nhiên cuối cùng tôi hiểu ra rằng tất cả những con người thành tâm đó, dù số lượng của họ có tăng lên, vẫn không lay chuyển nổi cả cái hệ thống rộng lớn chỉ lấy lợi nhuận làm mục tiêu chính yếu.

Nghĩ lại, tôi nhận ra câu hỏi tôi vẫn hằng đặt ra từ khi mới chập chững vào đời là: Chủ nghĩa tư bản có phải là một giải pháp tuyệt vời cho vấn đề khan hiếm hay chính nó lại là vấn đề trung tâm của thời hiện đại? Câu hỏi này có nhiều cấp độ, nhưng dù tìm hiểu cấp độ nào tôi cũng đi đến cùng một kết luận. Mặc dầu thoạt đầu chủ nghĩa tư bản là một giải pháp tuyệt vời nay nó đã trở thành một vấn đề của thời đại chúng ta. Nó đã làm tốt trong thời của nó, nhưng thời thế đã thay đổi.

Khi chủ nghĩa tư bản mới xuất hiện, thiên nhiên thật phong phú còn tư bản thì khan hiếm, vì vậy ưu tiên khuyến khẩu tư bản là hợp lẽ. Ngày nay chúng ta dư dật tư bản mà lại đang cạn nguồn thiên nhiên. Chúng ta cũng đang đánh mất nhiều thể chế xã hội có thể liên kết chúng ta thành cộng đồng và làm phong phú cuộc sống của chúng ta bằng những phương cách không dựa trên tiền bạc. Điều này có nghĩa chủ nghĩa tư bản cần phải điều chỉnh. Chúng ta phải điều chỉnh chủ nghĩa tư bản cho phù hợp với thế kỷ hai mốt chứ không phải thế kỷ XVIII và điều đó có thể thực hiện được.

Làm thế nào có thể chỉnh đốn cả một hệ thống rộng lớn và phức tạp như chủ nghĩa tư bản? Và làm sao làm điêu đó một cách êm thấm, hạn chế đau đớn và xáo trộn đến mức thấp nhất? Câu trả lời là làm như Bill Gates: nâng cấp hệ điều hành.

Phạm vi của cuốn sách này

Cũng giống như Hiến pháp đã đề ra các quy tắc cho Chính phủ, hệ điều hành kinh tế của chúng ta đề ra các quy tắc cho thương mại. Tôi dùng tính tử sở hữu chúng ta để nhấn mạnh rằng hệ điều hành kinh tế này thuộc về mọi người. Nó không phải là không thay đổi được, và chúng ta có quyền nâng cấp nó, cũng giống như chúng ta có quyền tu chính Hiến pháp vậy. Cuốn sách này giải thích tại sao chúng ta phải nâng cấp hệ điều hành hiện nay, một hệ điều hành mới có thể sẽ như thế nào, và chúng ta có thể cài đặt hệ điều hành mới cách nào.

Cuốn sách gồm ba phần. Phần một tập trung vào hệ điều hành hiện nay của chúng ta, một phiên bản tôi đặt tên là Chủ nghĩa tư bản Phiên bản 2.0 (Chủ nghĩa Tư bản Phiên bản 1.0 kết thúc vào khoảng năm 1950, như tôi sẽ giải thích trong Chương II). Tôi cho thấy hệ thống này xâu xé thiên nhiên, gia tăng bất bình đẳng. và vì vậy làm chứng ta phải khổ sở thế nào. Mặc dầu những vấn đề này nhiều độc giả cũng đã ý thức rồi, tôi vẫn xem xét lại để chứng định rằng những kết quả này không phải ngẫu nhiên - đó là những kết cuộc không thể tránh khỏi của phần mềm kinh tế của chúng ta. Điều này có nghĩa không thể chỉnh đốn chúng bằng cách vá víu bên ngoài. Nếu muốn chỉnh đốn, phải thay đổi bộ mã.

Phần II của cuốn sách tập trung vào chủ nghĩa tư bản trong tương lai, một phiên bản tôi đặt tên là Chủ nghĩa tư bản Phiên bản 3.0. Khác biệt chủ yếu giữa phiên bản 2.0 và phiên bản 3.0 là trong phiên bản 3.0 có thêm một loạt những ảnh mà tôi gọi là khu vực công sản. Thay vì chỉ có một động cơ - tức là khu vực tư nhân do các Công ty thống trị - hệ điều hành kinh tế đã nâng cấp của chúng ta sẽ hoạt động bằng hai động cơ: một động cơ để tối đa hóa lợi nhuận, động cơ kia để bảo tồn và phát huy công hữu.

Hai động cơ cùng hoạt động này - gọi là khu vực Công ty và khu vực công sản - sẽ tiếp sức và kiềm chế nhau. Một cái lo cho mặt "tôi" của chúng ta, còn cái kia phụ trách mặt "chúng ta". Khi cân bằng với nhau - và để đặt được sự cân bằng này Chính phủ phải nỗ lực rất nhiều - hai động cơ sẽ làm chúng ta thịnh vượng, an tâm, và hài lòng hơn là khi chỉ có một động cơ hoạt động như hiện nay. Và với hai động cơ cùng hoạt động, Trái đất sẽ không bi tàn phá.
Phần II đề xuất một số quyền sở hữu mới, quyền đương nhiên có, và những thể chế mới để bằng cách nào đó có thể mở rộng khu vực công sản. Tôi vẫn nghĩ rằng những đề xuất này kết hợp được hy vọng và hiện thực. Một số đề xuất cụ thể là:

• Một loạt những quỹ tín thác hệ sinh thái để bảo vệ không khí, nước, rừng, và môi sinh.
• Một quỹ đầu tư tập thể để thanh toán cổ tức cho mọi người dân Mỹ - mỗi người một cổ phần.
• Một quỹ tín thác để cấp vốn khởi nghiệp cho mọi trẻ em.
• Một quỹ chia sẻ rủi ro về y tế cho một người.
• Một quỹ quốc gia dựa trên phí bản quyền để hỗ trợ nghệ thuật địa phương.
• Một hạn chế về lượng quảng cáo.

Phần cuối của cuốn sách giải thích lộ trình để đi đến Chủ nghĩa tư bản Phiên bản 3.0, cách hoạt động của các mô hình và các bạn cùng tôi có thể đóng góp gì.

Những nhân vật xuyên suốt cuốn sách này là các Công ty, Chính phủ, và công sản. Cốt chuyện đại khái như thế này. Khi màn kéo lên, các Công ty đang vơ vét công sản. Họ luôn ở thế thượng phong, còn công sản - một sự pha trộn vô tổ chức thiên nhiên, cộng đồng, và văn hóa - luôn là kẻ thua cuộc. Công sản không có quyền sở hữu cho riêng mình nên phải nhờ Chính phủ bảo vệ. Nhưng Chính phủ lại là một người bảo hộ bất nhất, chuyên thiên về phe các Công ty.

Thật may, các Công ty chỉ chi phối Chính phủ hầu hết thời gian mà thôi, có lúc họ cũng lơi tay. Vì vậy có thể hình dung ra rằng lần tới khi sự thống trị của các Công ty suy giảm, Chính phủ - thay mặt cho dân thường - sẽ nhanh chóng củng cố công sản Chính phủ giao quyền sờ hữu mới cho các quỹ tín thác công sản, xây dựng cơ sở hạ tầng công sản và tạo nên một giai cấp mới gồm các đồng sở hữu chủ đúng nghĩa. Khi các Công ty giành lại sự thống trị về chính trị và chắc chắn sẽ thế, họ không thể phá bỏ hệ thống mới. Công sản giờ đây đã có những cơ chế bảo vệ và các cổ đông, công sản đã đủ vững vàng để trường tồn. Và sẽ đến lúc các Công ty chấp nhận công sản là đối tác làm ăn của mình. Họ nhận thấy mình vẫn có thể kiếm lời, vạch kế hoạch phát triển rộng hơn và thậm chí có khả năng cạnh tranh hơn trên quy mô toàn cầu.

Không đề xuất nào đưa ra trong cuốn sách này có thể thành công trong nay mai. Mà đó cũng không phải là mục đích của tôi. Mục đích của tôi là thắp lên một ngọn đèn, để mọi người thấy được loại hệ thống chúng ta sẽ xây dựng, từng chút một, khi có cơ hội. Tôi thấy việc xây dựng hệ thống như vậy là một quá trình kéo dài hàng thập kỷ trong đó sẽ có những giai đoạn thay đổi nhanh chóng. Công việc này có sự tham gia của các doanh nghiệp và nhà chính trị, các nhà kinh tế và luật sư, các công dân và những người hướng dẫn dư luận ở mọi cấp. Để khỏi lạc đường, chúng ta cần một kim chỉ nam. Và tôi hy vọng cuốn sách này sẽ làm được vai trò kim chỉ nam đó.