Hiển thị các bài đăng có nhãn triết học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn triết học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2008

CRITICAL THINKING


"TƯ DUY BÌNH LUẬN" (TDBL)
(CRITICAL THINKING)

Đây là bản dịch từ bài giảng tóm tắt bằng Anh ngữ:

http://philosophy.hku.hk/think/misc/miniguide.pdf

Author: Dr. Joe Lau, Associate Professor
Department of Philosophy
The University of Hong Kong (UHK)
Aug. 2003


MỤC LỤC

1. Dẫn nhập
2. Nghĩa
3. Định nghĩa
4. Điều kiện cần và đủ
5. Cạm bẫy trong ngôn ngữ
6. Khái niệm cơ bản về luận lý
7. Biện luận
8. Tính hiệu lực và vững-chắc
9. Mẫu của các biện luận có hiệu lực
10. Nhân quả
11. Đạo đức
12. Ngụy biện
13. Đi xa hơn nữa

Trong tập sách nhỏ này ta đã bàn về một phần rất nhỏ của TDBL mà thôi. Nếu muốn học hỏi nhiều hơn, bạn có thể tham khảo những sách và tài liệu sau:
http://philosophy.hku.hk/think - “Critical thinking web”, a web site with online tutorials and exercises on critical thinking and creative thinking skills.

http://www.philosophy.unimelb.edu.au/reason/critical/ - “Tim van Gelder’s critical thinking on the web”, a directory of online resources related to critical thinking.

Patrick Hurley (2003) A Concise Introduction to Logic 8th edition Wadsworth.

Anthony Weston (2001) A Rulebook for Arguments 3rd edition Hackett.


Đối chiếu các thuật ngữ Anh-Việt

A
Affirm ............. Xác nhận
Ambiguity ........ Thể không rõ ý
Antecedent ..... Mệnh đề nếu
Argument ........ Biện luận
Association ..... Sự liên kết
Assumption ..... Giả định
Attribute ........ Thuộc tính


C
Category ......... Loại
Causation ........ Nhân quả
Circularity ........ Đi vòng vòng
Claim .............. Câu nói
Concept .......... Khái niệm
Conclusion ....... Kết luận
Condition ......... Điều kiện
Conversation .... Thảo luận
Consequent ...... Mệnh đề hệ quả
Consistent ....... Tương hợp
Context .......... Tình huống, bối cảnh
Correct .......... Đúng cách
Correlation ...... Sự tương quan
Creative ......... Sáng tạo
Critical Thinking . Tư duy bình luận


D
Definien ............. Phần định nghĩa
Definiendum ....... Phần được định nghĩa
Definition ........... Định nghĩa
Deny ................. Phủ nhận
Dilemma ............. Sự Khó xử
Disambiguation .... Giải toả thể không rõ ý
Disjunctive ......... Phân liệt, cách ly
Distortion ........... Sự bóp méo
Dramatic ............ Mang kịch tính


E
Entail ................. Dẫn theo, đưa đến
Equivalent .......... Tương đương
Essential ............ Thiết yếu
Event ................ Biến cố, sự cố, sự biến


F
Fallacy .............. Ngụy biện
False ................ Sai sự thật hay sai luận lý
Follow .............. Đi theo
Formal Logic ...... Luận lý minh bạch


H
Hypothetical ..... Có tính giả thuyết


I
Inconsistent ...... Bất tương hợp
Incorrect .......... Không đúng cách
Infer ................ Suy ra, suy luận
Invalid .............. Bất hiệu lực


J
Judgement ........ Phán xét


L
Lexical .............. Theo tự điển
Literal meaning ... Nghĩa từng chữ, nghĩa đen
Logic ................ Luận lý


M
Meaning ............... Nghĩa
Meaningless .......... Vô nghĩa
Metaphors ............ Phép tỷ dụ
Modus ponent ....... Xác nhận mệnh đề nếu
Modus tollens ....... Phủ nhận mệnh đề thì
Morality ............... Đạo đức


N
Necessary ........... Cần (thiết yếu)
Norm .................. Tiêu chuẩn xã hội

O
Obscurity ........... Tối nghĩa


P
Pattern ............. Mẫu, khuôn mẫu
Persuasive ......... Có tính thuyết phục
Precising ........... Tạo chính xác
Premise ............. Tiền đề
Property ........... Đặc tính
Proposition ........ Đề xuất


R
Rational .............. có lý luận
Reasoning ........... Lý luận
Referential .......... Tham chiếu
Reflection ........... Suy nghĩ cẩn thận, sâu sắc
Reification .......... Phép cụ thể hoá
Reportive ........... Có tính tường thuật
Rhetorical .......... Có tính hùng biện
Right ................ Đúng đắn


S
Semantic ............. Ý nghĩa
Skill .................... Kỹ năng
Soundness ........... Tính vững chắc, chặc chẽ
Statement ........... Mệnh đề
Stipulative ........... Có tính ước định
Sufficient ............ Đủ
Suppose ............. Giả sử
Syllogism ............ Kết luận
Syntax ............... Cú pháp


T
Thinking ............. Tư duy
True .................. Đúng sự thật hay đúng luận lý


V
Vagueness ......... Thể không rõ mức độ
Validity .............. Có hiệu lực


W
Wrong .............. Sai trái


----------> Tieng viet: http://ifile.it/dr5icu2 or Critical Thinking

tham khao :

Bạo Lực Gia Đình

Popular

Lý Luận Giỏi

Popular

Thực Tế về Hoạt Động Tình Dục

Popular

Tình Dục Dựa Trên Âm Dương và Ngũ Hành

Popular

Thứ Năm, 20 tháng 3, 2008

KHỔNG TỬ

 Khổng Tử-ebook viet
"Triết thuyết nào cũng chỉ để cứu cái tệ của một thời thôi. Muốn đánh giá một triết thuyết thì phải đặt nó vào thời của nó, xem nó giải quyết được những vấn đề của thời đó không, có là một tiến bộ so với các thời trước, một nguồn cảm hứng cho các đời sau không. Và nếu sau mươi thế hệ, người ta thấy nó vẫn còn làm cho đức trí con người được nâng cao thì phải coi nó là một cống hiến lớn cho nhân loại rồi"

KHỔNG TỬ

LỜI NÓI ĐẦU Từ xưa tới nay hầu hết các học giả viết về học thuyết Khổng tử đều dùng cả tứ thư lẫn Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Khổng tử gia ngữ v.v… làm tài liệu, như vậy theo tôi không phải là tìm hiểu Khổng giáo trong suốt thời Chiến Quốc, vì trong những sách dẫn trên, ngoài bộ Luận Ngữ là đáng tin nhất, còn thì bộ nào cũng chứa nhiều tư tưởng của người sau, không phải của Khổng tử.

Tôi lấy thí dụ cuốn Đại học của Tăng Tử (một môn sinh được trực truyền) ngay trong đoạn đầu nói về việc tu thân để tề gia, trị quốc…, cũng đã có một ý tôi cho không phải là của Khổng tử mà của Tăng tử, tức “tri tri tại cách vật”, vì trong Luận ngữ ông không hề nói tới sự cách vật.

Sách Trung dung của Tử Tư, cháu nội Khổng tử, cũng có những tư tưởng siêu hình, mà Khổng tử tránh phần siêu hình.

Rồi những câu “cương nhu tương thôi nhi sinh biến hóa”, “nhất hạp nhất tịch vi chi biến, vãng lai bất cùng vvi chi đạo” (trong Kinh Dịch – Hệ từ thượng) mà nhiều người dẫn (chẳng hạn Trần Trọng Kim trong Nho giáo) và cho là quan niệm về đạo của Khổng tử, thì sao tôi thấy có màu sắc của Lão giáo quá.

Ngay như Lễ Kí, thiên Tăng tử vấn (Tiểu Đái Kí) phần lớn không tin được vì xuất hiện sau Khổng tử bảy trăm năm (thế kỷ II sau Tây lịch) và do người đời Hán viết.

Căn cứu vào những bộ đó thì không khác gì tô xanh tô đỏ lên học thuyết của Khổng tử, còn đâu chân diện mục của nó nữa. Từ lâu tôi vẫn bất mãn về điều đó và chỉ thấy mỗi một học giả ở Pháp, ông Etiemble, trong cuốn Confucius (Gallimard 1966) là không dùng phương pháp đó mà chỉ căn cứ vào mỗi hệ Luận ngữ thôi.


download link

Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2008

"Tìm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức"


Cuốn “Tìm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức” của giáo sư Trần Đức Thảo do nhà xuất bản Xã hội xuất bản ở Pari năm 1973, dày 344 trang. Trong lời giới thiệu, nhà xuất bản có giới thiệu tác giả là người đã để lại dấu ấn trong “cả một thế hệ trí thức Pháp qua những bài giảng của ông ở Trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm cũng như qua cuốn sách in năm 1951”.

Giáo sư Trần Đức Thảo quê ở Bắc Ninh, thi đỗ vào học Trường Cao đẳng Sư phạm Pari ở phố Ulm, năm 1943 tốt nghiệp thủ khoa, rồi sau đó làm luận án tiến sĩ ở trường đại học Sorbonne. Năm 1945-1948, ông giảng dạy ở trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm và Trường Sevnes. Năm 1951, ông viết cuốn sách “Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng”, trong cuốn “Từ điển triết học”, Bernard và Porothee Raussant đã viết rằng cuốn sách đó là “một tác phẩm gây sửng sốt” mà tính táo bạo trong cách nhìn và sự sáng tỏ trong cách diễn đạt đã nhanh chóng được coi là kinh điển, đóng vai trò quan trọng trong việc đào luyện nhiều nhà triết học trẻ.

Sau năm 1951, giáo sư trở về Việt Nam, làm giảng viên đại học ở chiến khu Việt Bắc, rồi làm ở Văn phòng Tổng bí thư, Chủ nhiệm khoa Sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Phó hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tác phẩm "Tìm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức" của giáo sư là để trả lời câu hỏi ý thức, ngôn ngữ bắt nguồn từ đâu, có từ bao giờ? Ông đã nghiên cứu các vấn đề: hành động chỉ dẫn như là hình thức gốc của ý thức; ngôn ngữ hỗn hợp; những nguồn gốc của khủng hoảng Oedipe (ham muốn tình dục). ông đi đến khẳng định nguồn gốc của ý thức do ngôn ngữ và lao động xã hội

Cũng như các tác phẩm khác của ông, tác phẩm "Tìm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức" được các học giả đánh giá cao và tái bản nhiều lần, được Nhà nước Truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000.

Cuối những năm 80, ông còn cho xuất bản cuốn “Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người” đề cập nhiều vấn đề triết học hiện đại trên quan điểm mácxit.

Giáo sư Trần Đức Thảo sinh ngày 26/9/1917 tại Từ Sơn, Bắc Ninh; mất ở Paris vào ngày 24/4/1993 khi đang viết dở dang cuốn sách “Logic của hiện tại sống động”; được nhận Huân chương Độc lập hạng Hai

Đọc toàn văn tại:Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức

Dow load tiếng việt: Tim ve coi nguon cua ngon ngu va y thuc - Tran Duc Thao.rar

MỘT SỐ BÀI BÁO VÀ TIỂU LUẬN CỦA TRẦN ĐỨC THẢO

Trước đây, tôi có làm một ebook tập hợp những bài báo và tiểu luận của triết gia Trần Đức Thảo đăng trên trang web của GS. Trần Hữu Dũng (http://viet-studies.info), nay up lên để mọi người cùng đọc.


Phải nói một nghịch lý là trên thế giới, nhất là tại Pháp, người ta biết đến Trần Đức Thảo còn nhiều hơn người Việt Nam biết về ông. Có thể bởi ông không đưa ra một học thuyết nào lớn như Hegel hay Mác, nên người ta ít chú ý đến ông hơn chăng ?

Dowload Files : Tieu_luan_Tran_Duc_Thao.rar


Phần một: Nhập đề lịch sử tư tưởng


Phần hai: Biện chứng pháp của tiền sử tư tưởng


Phần ba: Vấn đề nhận thức của loài người trong xã hội nguyên thủy

Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại

Nhung tu tuong lon tu nhung tac pham vi daiCầm quyển sách Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại (+), có thể người xem sẽ hơi… ngộp, nó bao hàm quá nhiều lĩnh vực, đơn giản vì đó là "sách của sách". Nhưng tác phẩm này xứng đáng được gọi là một cuốn sách hay.

Tác giả, Dr. Mortimer J. Adler là một chuyên gia về lịch sử tư tưởng phương Tây, ông giữ một chuyên mục của một tờ báo ở Mỹ, ông có nhiệm vụ trả lời tất cả những câu hỏi của bạn đọc thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội. Chủ yếu, bạn đọc muốn biết các nhà tư tưởng phương Tây trong quá khứ đã suy nghĩ và lý giải thế nào về những vấn đề con người hiện thời đang đối mặt. Và tác giả cuốn sách này, làm công việc đọc những tác phẩm bất hủ của họ và hệ thống, nói lại cho độc giả nghe. Thành công của chuyên mục kể trên là lý do cuốn sách này ra đời.

Cấu trúc cuốn sách dọc theo những câu hỏi chia thành từng nhóm đề tài, từ đạo đức, chính trị, xã hội, kinh tế... đến thần học, siêu hình học, triết học, mỹ học, nghệ thuật, quan hệ người và người… Không có tuyệt đối đúng sai, trả lời bằng cách trình bày các ý kiến của các nhà tư tưởng lớn, các ý kiến đưa ra có thể xung khắc nhau, và có thể lỗi thời so với hiện tại… nhưng đó là thành quả của nhiều năm lao động trí óc, từ đó, người đọc có thể học tập phương pháp tư duy của các nhà tư tưởng lớn.

Tác phẩm bổ ích cho tất cả mọi người vì những câu hỏi đặt ra rất gần gũi, là những vấn đề con người hiện đại quan tâm. Một điều thú vị khác, cuối sách có phần phụ lục gồm hình ảnh và tiểu sử tóm tắt của 42 nhà tư tưởng phương Tây tiêu biểu trong lịch sử.

Sách dễ đọc, đọc một mạch để làm giàu lý luận, hay có thể chỉ đọc những gì mình quan tâm nhất, đều thấy thú vị, giống như một cuốn từ điển có thể tra cứu bất kỳ lúc nào.

HƯƠNG YÊN (Báo Tuổi Trẻ, 28/05/2004)

_______________

(+) Tác giả Dr. Mortimer J. Adler, từ nguyên tác Great Ideas From The Great Books, Phạm Viêm Phương & Mai Sơn dịch và chú thích, NXB Văn Hoá Thông Tin, quý 1 năm 2004.

Nội dung tác phẩm

Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại
Dr. Mortimer J. Adler
Phạm Viêm Phương và Mai Sơn (Dịch và chú giải)
NXB. Văn Hoá Thông Tin - 2004


Sách gồm 10 phần:

Phần 1: Những câu hỏi về triết học, khoa học và tôn giáo
Phần 2: Những câu hỏi về chính trị: con người và quốc gia
Phần 3: Những câu hỏi về các vấn đề đạo đức
Phần 4: Những câu hỏi về nền giáo dục khai phóng và những tác phẩm lớn
Phần 5: Những câu hỏi về thần học và siêu hình học
Phần 6: Những câu hỏi về các vấn đề xã hội
Phần 7: Những câu hỏi về các định chế kinh tế
Phần 8: Những câu hỏi về nghệ thuật và cái đẹp
Phần 9: Những câu hỏi về tình yêu và tình bạn
Phần 10: Những câu hỏi về con người và thế giới con người
Phụ lục: Những hình ảnh và tiểu sử tóm tắt của 42 nhà tư tưởng tiêu biểu trong lịch sử.



Mai Sơn (1956), nhà báo, nhà văn và dịch giả hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông chuyên dịch trong lĩnh vực biên khảo và triết học, đã xuất bản 3 tập truyện và 4 tác phẩm dịch, sắp xuất bản tác phẩm biên soạn „100 đại triết gia“.

Phạm Viêm Phương (1955), dịch giả của nhiều tác phẩm văn học, triết học, chính trị, kinh tế, hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.


Toàn văn bản dịch tác phẩm „Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại“ (bản PDF, 393 trang, 3.018 KB)

Hoặc : http://ebook.uploader.googlepages.com/nhung_tu_tuong_lon.rar


Phụ lục (Đính chính)

SOCRATES (469 – 399 tr. CN)

Triết gia Hy Lạp. Triết học của ông còn lưu giữ được thông qua trước tác của các học trò ông, đặc biệt là Plato. Ông sử dụng một phương pháp sau này trở nên nổi tiếng là “phương pháp Socrates” để tra vấn những tin tưởng truyền thống về đạo đức, công bằng, và những ý niệm xã hội khác. Bị buộc tội vô thần và làm suy đồi giới trẻ, ông phải nhận bản án tử hình.


PLATO (428 – 347 tr. CN)

Triết gia Hy Lạp. Ðồ đệ của Socrates, và thầy dạy của Aristotle, ông sáng lập Hàn Lâm Viện Athens. Các tác phẩm của ông, được viết dưới hình thức đối thoại, có thể kể Phaedo, Symposium, và Republic.


ARISTOTLE (384 – 322 tr. CN)

Triết gia và nhà khoa học Hy Lạp. Ông là một trong những triết gia có ảnh hưởng nhất đến triết học Tây phương.

Aristotle lần đầu đến thụ giáo Plato lúc còn là một cậu thiếu niên, và ba mươi năm sau ông sáng lập trường cao đẳng Lyceum, ở đó ông dạy và viết về mọi đề tài: triết học, lôgic, chính trị, tu từ học, văn chương, và các khoa học. 1500 năm sau ông vẫn còn được coi là người có thẩm quyền về các chủ đề này.


SAINT AUGUSTINE (354 – 430)

Giáo sĩ và nhà thần học La Mã. Kiệt tác của ông,The Kingdom of God, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của Thiên Chúa giáo.

Augustine là nhân vật hàng đầu của giáo hội Bắc Phi đầu thế kỷ V. Ông triển khai triết học Kitô giáo theo đường hướng học thuyết của Plato.


SAINT THOMAS AQUINAS (1225 – 1274)

Triết gia kinh viện Ý. Nhà thần học chính yếu của Cơ Ðốc giáo La Mã.


MIGUEL DE CERVANTES (1547 – 1616)

Tiểu thuyết gia, kịch tác giaTây Ban Nha. Tiểu thuyết Don Quixote (1605 - 1615) của ông ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của tiểu thuyết.


GALILEO (1564 – 1642)

Nhà vật lý, nhà thiên văn người Ý. Là một trong những người đặt nền tảng cho cuộc cách mạng khoa học ở châu AÂu, những đóng góp chủ yếu của ông bao gồm việc áp dụng kính viễn vọng vào ngành thiên văn và việc khám phá ra quy luật của các vật thể rơi và những chuyển động của đạn.


WILLIAM SHAKESPEARE (1564 – 1616)
Nhà thơ, nhà soạn kịch người Anh. Ông được thừa nhận rộng rãi là một trong những nhà soạn bi kịch vĩ đại nhất trong khối nói tiếng Anh. Các tác phẩm chính: Romeo và Juliet (1592), Hamlet (1601?), Macbeth (1606), Vua Lear (1607)


RENÉ DESCARTES (1596 – 1650)

Triết gia, nhà toán học Pháp. Ông thường được coi là cha đẻ của triết học hiện đại. Tác phẩm nổi tiếng Phương pháp luận (1637) của ông giới thiệu kỹ thuật truy tầm triết lý. Công trình về hình học giải tích của ông dẫn đến hệ thống tọa độ mang tên Descartes.


JOHN MILTON (1608 – 1674)

Nhà thơ Anh. Thơ của ông được xếp vào loại tài sản quí báu nhất của văn học Anh, trong đó có kiệt tác The Lost Paradise (1667) thuật lại câu chuyện Adam và Eve bị đuổi khỏi vườn địa đàng


BARUCH SPINOZA (1632 – 1677)

Triết gia Hà Lan. Chống lại Do Thái giáo nền tảng văn hóa của mình, ông triển khai một thứ triết học kết hợp những yếu tố duy lý và phiếm thần. Tác phẩm chủ yếu của ông là Ethics (1674).

ISAAC NEWTON (1642 – 1727)

Khoa học gia người Anh. Ông khám phá ra luật hấp dẫn, sáng nghĩ ra phép tính, và diễn đạt luật chuyển động. Ông nhận thấy rằng ánh sáng trắng là sự pha trộn của các thứ ánh sáng có màu. Tác phẩm chính: Những nguyên lý toán học của triết học tự nhiên (1687) và Quang học (1704)


VOLTAIRE (1694 – 1778)

Triết gia, nhà văn Pháp. Là khuôn mặt hàng đầu trong phong trào Ánh sáng, ông viết nhiều tác phẩm văn học thể hiện tinh thần cực đoan và những ý tưởng tôn giáo của mình. Các tác phẩm chính có thể kể: Những bức thư triết học (1734), Candide (1759), Tự điển triết học (1764)


DAVID HUME (1711 – 1776)

Triết gia, sử gia người Scotland. Các tác phẩm chính: Luận về Bản tính con người (1739 - 1740) và Khảo về tri thức con người (1758)


JEAN JACQUES ROUSSEAU (1712 – 1778)

Triết gia, nhà văn Pháp. Ông là một trong những tác giả vĩ đại nhất của phong trào Ánh sáng. Các tác phẩm của ông có thể kể Xã Ước (1762), Nàng Heloise mới (1761), và Émile (1762).

ADAM SMITH (1723 – 1790)

Triết gia, nhà kinh tế học người Anh. Ông trình bày học thuyết mậu dịch tự do của mình trong tác phẩm Sự phồn vinh của các quốc gia (1776)


IMMANUEL KANT (1724 – 1804)
Triết gia Ðức. Ông là người gieo ảnh hưởng sâu xa lên triết học Tây phương qua hai tác phẩm chủ yếu Phê phán lý tính thuần túy (1781) và Phê phán lý trí thực hành (1788)


GEORGE WASHINGTON (1732 – 1799)

Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ. Tổng tư lệnh quân đội Mỹ trong cuộc Cách mạng 1775 - 1783


THOMAS JEFFERSON (1743 – 1826)

Tổng thống thứ ba của nước Mỹ. Tác giả Tuyên ngôn độc lập (1776)


JOHANN WOLFGANG VON GOETHE (1749 – 1832)

Nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà khoa học Ðức. Là một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn của văn học châu AÂu, ông trước tác rất nhiều từ thơ, tiểu thuyết, kịch đến tiểu luận và thư từ. Kiệt tác của ông là bi kịch Faust (1808 - 1832). Ông cũng là tác giả của tiểu thuyết Nỗi đau của chàng Werther (1774).


GEORG WILHEM FRIEDRICH HEGEL (1770 – 1831)

Triết gia Ðức. Hệ thống siêu hình học duy tâm của ông tạo nên một ảnh hưởng to lớn đối với tư tưởng châu AÂu thế kỷ 19. Các tác phẩm của ông có thể kể: Hiện tượng luận về tinh thần (1807), Bách khoa các khoa học về triết học (1817


ARTHUR SCHOPENHAUER (1788 – 1860)

Triết gia Ðức. Triết học vô thần, bi quan sâu sắc của ông được trình bày cặn kẽ trong Thế giới như ý chí và Biểu tượng (1819).


JOHN STUART MILL (1806 – 1873)

Triết gia và nhà kinh tế học người Anh. Các tác phẩm quan trọng nhất của ông có thể kể: Một hệ thống Logic (1843) và Luận về tự do (1859).


ABRAHAM LINCOLN (1809 – 1865)

Tổng thống thứ 16 của nước Mỹ. Ông lãnh đạo Liên bang chiến thắng trong Nội chiến và xóa bỏ chế độ nô lệ. Ông bị ám sát trong khi đang xem kịch tại nhà hát.


CHARLES DARWIN (1809 – 1882)

Khoa học gia người Anh. Oâng là người đặt nền móng cho thuyết tiến hóa. Kiệt tác gây nhiều tranh cãi của ông là Nguồn gốc Chủng loài Thông qua Chọn lọc Tự Nhiên (1859).





SOREN KIERKEGAARD (1813 – 1855)

Triết gia Ðan Mạch. Triết học tôn giáo của ông đề cập đến hiện sinh cá nhân, sự lựa chọn, và sự cam kết; nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến thần học và các triết gia hiện sinh.


HENRY DAVID THOREAU (1817 – 1862)

Triết gia, tiểu luận gia người Mỹ. Các tác phẩm chính: Bất phục tùng dân sự (1849) và Walden (1854), trong đó ông mô tả một đời sống bình dị gần gũi với tự nhiên


KARL MARX (1818 – 1883)

Triết gia Ðức. Các tác phẩm của ông, đặc biệt là Tuyên ngôn Cộng sản (1848) và Tư bản luận (1867, 1885, 1894), là nền tảng của Chủ nghĩa cộng sản.


WALT WHITMAN (1819 – 1892)

Nhà thơ và nhà tiểu luận người Mỹ. Ông nổi tiếng với thơ tự do mà tiêu biểu là tuyển tập thơ mang tính cách tân về thi pháp Lá Cỏ (1855 - 1889)


FRIEDRICH ENGELS (1820 – 1895)

Nhà tư tưởng chính trị, nhà cách mạng Ðức. Ông là đồng tác giả Tuyên ngôn Cộng sản (1848) với Karl Marx đồng thời là người hỗ trợ tài chính cho Karl Marx.


FYODOR DOSTOYEVSKY (1821 – 1881)

Tiểu thuyết gia Nga. Tác phẩm chính: Tội ác và Hình phạt (1866) và Anh em nhà Karamazov (1879 - 1880)


LEV TOLSTOY (1828 – 1910)

Nhà văn Nga, tác giả hai bộ tiểu thuyết sử thi Chiến tranh và Hòa bình (1865 - 1869) và Anna Karenina (1875 - 1877). Ông bị trục xuất ra khỏi Chính Thống Giáo Nga vì những quan điểm cực đoan về quyền lực của giáo hội


FRIEDRICH NIETZSCHE (1844 – 1900)

Triết gia Ðức, tác giả của kiệt tác Zarathustra đã nói như thế (1883 - 1885), một trong những triết gia có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 19. Ông xây dựng một nền triết học dựa trên ý chí vươn tới quyền lực và chống đối tôn giáo.


ARTHUR RIMBAUD (1854 – 1891)

Nhà thơ Pháp. Tác phẩm chính: Một mùa địa ngụcNhững bức tranh tô màu (1873)


SIGMUND FREUD (1856 – 1939)

Bác sĩ người Áo, cha đẻ của phân tâm học. Ông khai triển nhiều lý thuyết chủ yếu đối với phân tâm học, tâm lý học về tính dục con người, và sự minh giải giấc mơ. Các tác phẩm của ông có kể Minh giải giấc mơ (1899) và Cấm kỵ và Vật tổ (1913)


BERTRAND RUSSELL (1872 – 1970)

Triết gia, nhà toán học, nhà hoạt động hòa bình người Anh. Ông viết nhiều tác phẩm triết học có ảnh hưởng lớn. Ông đoạt giải Nobel văn chương năm 1950.

Bertrand Russell vượt lên những ảnh hưởng liên tục của Bradley, Moore, Frege, và Wittgenstein để trở thành một triết gia Anh có nhiều độc giả nhất của thế kỷ XX.


ALBERT EINSTEIN (1879 – 1955)

Nhà vật lý người Mỹ gốc Ðức. Thuyết tương đối của ông là cuộc cách mạng về tư tưởng khoa học và là nền tảng lý thuyết cho năng lượng nguyên tử. Ðoạt giải Nobel vật lý năm 1921.


WILLIAM FAULKNER (1897 – 1962)

Nhà văn Mỹ. Ông được đánh giá là một trong những tiểu thuyết gia Mỹ vĩ đại nhất vì những tác phẩm viết theo kỹ thuật giòng - ý - thức về đời sống ở miền Nam nước Mỹ, trong đó có AÂm thanh và Cuồng nộ (1929). Ðoạt giải Nobel văn chương năm 1949.


ERNEST HEMINGWAY (1899 – 1961)

Nhà văn Mỹ. Một trong những nhà văn hàng đầu của thế kỷ 20. Các tác phẩm của ông có thể kể: Giã từ vũ khí (1929) và Chuông nguyện hồn ai (1940). Ðoạt giải Nobel văn chương năm 1954.


JEAN PAUL SARTRE (1905 – 1980)

Triết gia, kịch tác gia, và tiểu thuyết gia người Pháp. Là người chủ xướng thuyết hiện sinh, ông viết tác phẩm triết học Hữu Thể và Hư voâ (1943) và tiểu thuyết Buồn nôn (1938).

Jean Paul Sartre đã trở thành hình mẫu của trí thức Pháp: sâu sắc và khó hiểu, chống lại quy ước, dấn thân vào chính trị.

ALBERT CAMUS (1913 – 1960)

Tiểu thuyết gia, tiểu luận gia, nhà soạn kịch người Pháp, sinh tại Algeria. Các tác phẩm của ông có thể kể: Kẻ xa lạ (1942) và Dịch hạch (1947). Ðoạt giải Nobel văn chương năm 1957.

ARTHUR MILLER (1915 - )

Kịch tác gia Mỹ. Ông đoạt giải Pulitzer với vở bi kịch Cái chết của người chào hàng (1949). Người vợ thứ hai của ông là diễn viên điện ảnh Marylin Monroe.

Alvin Toffler



Alvin Toffler (born October 3, 1928) is an American writer and futurist, known for his works discussing the digital revolution, communications revolution, corporate revolution and technological singularity. A former associate editor of Fortune magazine, his early work focused on technology and its impact (through effects like information overload). Then he moved to examining the reaction of and changes in society. His later focus has been on the increasing power of 21st century military hardware, weapons and technology proliferation, and capitalism. He is married to Heidi Toffler, also a writer and futurist. They live in Los Angeles. They wrote the books credited to "Alvin Toffler" together.

Accenture, the management consultancy, has dubbed him the third most influential voice among business leaders, after Bill Gates and Peter Drucker. He has also been described in the Financial Times as the "world's most famous futurologist". People's Daily classes him among the 50 foreigners that shaped modern China.[1]

Contents












Cú sốc tương lai - Alvin Toffler
Người dịch : Nguyễn văn Trung
NXB Thông tin lý luận - 1992

Đây là một tác phẩm rất hay, dự báo về tương lai của xã hội siêu công nghiệp sắp đến, một cuộc cách mạng còn sâu rộng hơn cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ 17, 18, vì không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn liên quan đến mọi khía cạnh khác của xã hội. Sự thay đổi của xã hội sắp đến không chỉ ở sự khác biệt so với hiện tại, mà còn là tốc độ của thay đổi, nó xảy ra với một nhịp độ đến chóng mặt, tác động không chỉ đối với từng cá nhân, mà còn đối với tập thể, quốc gia, tạo ra cái gọi là “Cú shock tương lai”, một từ do tác giả đưa ra, đã bắt đầu biến thành ngôn ngữ thông dụng trong báo chí, sách và cả từ điển.

Trích lời giới thiệu của nhà xuất bản
...
Cú sốc tương lai (Future Shock) là một trong bộ ba tác phẩm nổi tiếng đã đưa tác giả lên vị trí "nhà tương lai học lừng danh".
...
Với dung lượng thông tin đầy ắp và những dẫn chứng cụ thể, có sức thuyết phục, tác phẩm đã miêu tả, phân tích và nhận định về xã hội trong khung cảnh những đổi thay đến mức kỳ lạ, làm đảo lộn lối sống, cách nghĩ của con người từ xưa đến nay ; rút ra những nhận định về đặc điểm của thời đại mà chúng ta đang sống। Đưa người đọc vượt qua những phát kiến hấp dẫn của "thời kỳ bùng nổ" để đến với những giải pháp nhiều mặt về vật chất và tinh thần, về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, về mỗi cá nhân và cả cộng đồng...


Abstract
(Full link: http://en.wikipedia.org/wiki/Future_Shock)

Future Shock is a book written by the sociologist and futurologist Alvin Toffler in 1970. The book is actually an extension of an article of the same name that Toffler wrote for the February 1970 issue of Playboy. The book has sold over 6 million copies and has been widely translated.

Future shock is also a term for a certain psychological state of individuals and entire societies, introduced by Toffler in his book of the same name Toffler's shortest definition of future shock is a personal perception of "too much change in too short a period of time" The concept of future shock bears resemblance to the late 20th/early 21st century concept of "the technological singularity", and may have been influenced by Kuhn's concept of a technological paradigm

Tiếng anh: File Type: rar Alvin_Toffler___Future_Shock.rar

Tiếng viêt : File Type: rar CuSocTuongLai.rar


Đợt sóng Thứ ba






Lời giới thiệu
GS. Nguyễn Hồng Phong (Viện sử học Việt Nam )

Cuốn sách "Đợt sóng Thứ ba" (The Third Wave) do Viện Sử học Việt Nam tổ chức dịch và giới thiệu với bạn đọc là một cuốn sách có giá trị, rất nổi tiếng của nhà xã hội học và tương lai học Alvin Toffler.

Ngay sau lần xuất bản đầu tiên, nó đã được tái bản 5 lần trong năm 1980, 7 lần năm 1981. Được dịch ra hàng chục thứ tiếng. Ngoài bản tiếng Anh, nó đã được dịch ra những thứ tiếng như Pháp, Đức, Nhật, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Hà Lan, Hêbrơ, Bồ Đào Nha, Xecbi-crôatia (Nam Tư), Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc và đã được đọc ở 50 nước.

Alvin Toffler là giáo sư Trường Đại học Cornell, một nhà bác học trong tổ chức mang tên Russell và trong 5 năm ông đã là công nhân. Ông có 5 bằng Tiến sĩ về khoa học văn học và luật học.

Cuốn sách "Cú sốc tương lai" (Future Shock) đã xuất bản của ông được giải thưởng cuốn sách nước ngoài hay nhất của Pháp.

Để giúp bạn đọc rộng rãi thêm hứng thú để đọc tác phẩm đầy đặn, phong phú về các sự kiện và các ý tưởng này, chúng tôi giới thiệu, nói đúng hơn là lược thuật tóm tắt những nội dung chính của tác phẩm.


Từ đợt sóng thứ nhất đến đợt sóng thứ ba

Đợt sóng thứ ba - Văn minh hậu công nghiệp

Mục lục


Bộ mặt thế giới ngày nay thực là cực kỳ phức tạp. Bên cạnh những thành tựu kỳ diệu, những bước tiến phi thường của trí tuệ loài người về các mặt khoa học, kỹ thuật, công nghệ, thì các mặt khác lại không như thế. Năng lượng toàn cầu đang đi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Môi trường sinh thái bị phá hủy nặng nề và vẫn đang còn tiếp tục bị hủy hoại, khoảng cách giàu nghèo giữa các nước vẫn còn xa vời. Nền kinh tế trên thế giới có những thời kỳ trôi giạt cao độ. Nói về cuộc khủng hoảng này, A. Toffler viết:

"Không giống như tất cả các cuộc cách mạng trước trong thời đại công nghiệp, bây giờ nó dính líu chẳng những với tiền tệ mà còn với toàn bộ cơ sở năng lượng của xã hội. Không giống như những cuộc khủng hoảng của quá khứ, nó đem đến cùng một lúc cả lạm phát và cả tình trạng không có công ăn việc làm chứ không phải kế tiếp nhau. Không giống các cuộc khủng hoảng trước, nó gắn liền với các vấn đề sinh thái căn bản, với các loại công nghệ hoàn toàn mới và với một trình độ ứng dụng mới các truyền thông vào hệ thống sản xuất. Cuối cùng, nó không phải là cuộc khủng hoảng của riêng chủ nghĩa tư bản... Nói tóm lại, nó là cuộc khủng hoảng chung của nền văn minh công nghiệp với tư cách là một chỉnh thể" .

Nhưng không phải chỉ về mặt kinh tế. Về các mặt khác, những biến cố, những khuynh hướng, những sự phát triển cũng không kém phần dữ dội và độc đáo. Bên cạnh sự phát triển của vô tuyến truyền hình là sự phát triển của các tín ngưỡng. Các hệ thống giá trị tan vỡ và sụp đổ. Gia đình hạt nhân tan vỡ ở nhiều nơi. Các phong trào ly khai xuất hiện. Các chế độ chính trị hoặc là sụp đổ hoặc là đang khủng hoảng nghiêm trọng, chứ không còn tính chất ổn định như trước kia.

A. Toffler nói rằng: "Nhìn những sự thay đổi dữ dội này, chúng ta có thể coi chúng như những bằng chứng cô lập về sự không ổn định, sự sụp đổ và tai họa. Nhưng nếu chúng ta đứng lùi lại để có cái nhìn dài hơn thì... phải nói rằng nhiều sự thay đổi ngày nay không phải độc lập với nhau. Chúng cũng không phải ngẫu nhiên... các biến cố đó và các khuynh hướng đó cùng với nhiều biến cố và khuynh hướng khác tưởng như tách rời nhau lại liên hệ mật thiết với nhau”.

Theo A.Tollfer: "Trên thực tế, những biến cố và những khuynh hướng ấy là một bộ phận của một hiện tượng rộng lớn hơn nhiều, đó là: cái chết của chủ nghĩa công nghiệp và sự sự ra đời của một nền văn minh mới". Nền văn minh mới đó, ông gọi nó là Đợt sóng Thứ ba.

Toffler cho rằng trong lịch sử nhân loại có ba nền văn minh kế tiếp nhau: nền văn minh nông nghiệp, nền văn minh công nghiệp và nền văn minh hậu công nghiệp. ông dùng ẩn dụ đợt sóng để chỉ các nền văn minh đó, và sự va chạm của các đợt sóng để nói lên sự cùng tồn tại của những đợt sóng, sự thách thức của đợt sóng mới và sự tác động lẫn nhau của các đợt sóng, sự thay thế của đợt sóng mới đối với các đợt sóng cũ.

Cho tới nay, loài người đã trải qua hai đợt sóng thay đổi lớn. Đợt sóng Thứ nhất: sự ra đời của nông nghiệp và cùng với nó, nền văn minh nông nghiệp. Đó là bước ngoặt thứ nhất trong sự phát triển ,xã hội của loài người. Đợt sóng Thứ hai, sự ra đời của công nghiệp hóa, cùng với nó, nền văn minh công nghiệp.

Song trong những thập kỷ vừa qua, một bước ngoặt mới của lịch sử đã xảy ra. Trong thập kỷ bắt đầu từ năm 1955, ở Mỹ, người ta thấy số công nhân cổ trắng và các công nhân dịch vụ vượt quá số công nhân cổ xanh lần đầu tiên trong lịch sử. Đồng thời, cũng trong thập kỷ đó, người ta còn được chứng kiến sự du nhập rộng rãi máy tính, các máy bay dân dụng có động cơ phản lực cũng như nhiều đổi mới khác có tác dụng to lớn. Theo A.Toffler, chính trong thập kỷ đó, Đợt sóng Thứ ba xuất hiện, nền văn minh hậu công nghiệp. Nó bắt đầu tập trung sức mạnh ở Mỹ, rồi sau đó lan dần vào nhiều quốc gia công nghiệp khác, bao gồm Anh, Pháp, Thụy Điển, Đức, Liên Xô (trước đây) và Nhật Bản.

Ngày nay, tất cả các quốc gia công nghệ cao đang bị rung chuyển vì đợt sóng thứ ba xung đột với các nền kinh tế và các thể chế đã lỗi thời của đợt sóng thứ hai.

Những đợt sóng không tách biệt nhau, trên thực tế, chúng xen kẽ, lồng vào nhau. Ngay khi quá trình này tiếp diễn, thì một quá trình khác, quan trọng hơn, cũng đã bắt đầu. Khi nền văn minh công nghiệp thay thế nền văn minh nông nghiệp thì không phải vì thế, nền văn minh nông nghiệp đã hoàn toàn biến mất. Nó vẫn tồn tại, nhưng ngày càng bị nền văn minh công nghiệp dồn nén, hạn chế, làm cho nó mất dần vai trò và tác dụng. Hay là khi chủ nghĩa công nghiệp đã lên tới đỉnh cao trong những thập kỷ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thì Đợt sóng Thứ ba, ít được biết đến, cũng đã bắt đầu xuất hiện trên trái đất, làm biến đổi mọi cái nó đụng phải. Vì thế nhiều nước đang cảm thấy sự tác động đồng thời của hai, thậm chí của ba đợt sóng khác hẳn nhau.

Khi một đợt sóng thay đổi chiếm ưu thế trong một xã hội, thì mô hình phát triển tương lai vẫn tương đối dễ nhận thấy. Như ở Châu Âu, thế kỷ XIX, nhiều nhà tư tưởng, các nhà lãnh đạo kinh doanh, các chính khách dễ có một hình ảnh rõ ràng về tương lai và hình ảnh đó về căn bản là đúng. Trái lại, khi một xã hội chịu sự tác động của hai hoặc ba đợt sóng khổng lồ mà không có đợt sóng nào thống trị rõ ràng, thì hình ảnh về tương lai thật là không rõ ràng. Sẽ thật là khó nhận thức được ý nghĩa của những sự thay đổi và những xung đột đang xuất hiện. "Sự xung đột của các mặt sóng tạo ra một đại dương gầm thét, đầy những luồng nước xô đẩy nhau, những cơn lốc, những dòng xoáy, che dấu những dòng chảy lịch sử sâu hơn, quan trọng hơn” (tr.23).

Trong tình trạng đó, thường xuất hiện những quan niệm bi quan, yếm thế. Trên thực tế, vẫn có một trật tự khác biệt ẩn giấu, chỉ nhận thức được khi chúng ta phân biệt được những sự thay đổi mà đợt sóng thứ ba mang lại với những sự thay đổi gắn liền với đợt sóng thứ hai đang giảm dần. Những biến cố phức tạp và hỗn loạn đó của thế giới ngày nay chỉ nói lên rằng đợt sóng thứ ba đã xuất hiện và sự va chạm của nó với đợt sóng thứ hai là sự mở đầu của quá trình nó đang dâng lên, thay thế đợt sóng thứ hai.

A.Tollfer coi sự thay thế nền văn minh công nghiệp bằng nền văn minh họa công nghiệp là có một tính chất cách mạng không thể nghi ngờ. Ông viết:

"Những sự thay đổi đang gây nên những sự xáo trộn mà ngày nay chúng ta đang trải qua, đều không phải là hỗn loạn, cũng không có tính chất ngẫu nhiên, mà thực ra, chúng đang tạo ra một mô hình rõ nét, được nhận biết rõ ràng. Ngoài ra... những sự thay đổi ấy được tích lũy lại… chúng kết hợp với một sự chuyển hóa khổng lồ trong cách ta sống, lao động, chơi đùa và suy nghĩ… có thể có một tương lai lành mạnh và đáng mong muốn. Nói tóm lại… cái đang xảy ra hiện nay chẳng phải cái gì khác hơn là một cuộc cách mạng toàn cầu, một bước nhảy vọt trong lịch sử” (tr. 18, 19).


Trang: 1/4 1 2 3 4 »