Thứ Năm, 13 tháng 3, 2008

"Văn Minh" và Nhân Chủng Học Nhìn lại Chủ Nghĩa Tương Ðối Văn Hoá


Chiến tranh bắt nguồn từ tâm trí con người, chính ngay trong tâm trí

con người mà các thành lũy chống chiến tranh cần được xây dựng.

UNESCO

PHẠM TRỌNG LUẬT

Nhân loại đang sống dưới sự đe doạ của một cuộc thánh chiến giữa các nền văn minh dựa trên tôn giáo - có thể không còn là trong tương lai xa hay gần nữa mà đã bắt đầu. Nếu phải xây dựng những thành lũy chống chiến tranh ngay từ bây giờ trong tâm trí con người, thì tình thế đã rất khẩn trương, dù chưa đến nỗi tuyệt vọng. Trên vấn đề văn hoá, chúng ta đã đi từ thái cực này sang thái cực khác, từ tật miệt thị đến bệnh sùng bái những khác biệt. Tất cả đã được phản ánh khá rõ nét qua suốt 200 năm lập thuyết của nhân chủng học. Bộ môn này đã thất bại trong nhiệm vụ tìm lại sự đơn nhất của nhân loại thông qua những biểu hiện đa tạp của chủng tộc chăng? Dù sao, chính nhờ một số trực giác còn lại trong những kết quả của môn học trên mà chúng ta có thể tìm thấy loại luận cứ cần thiết nhằm phê phán «chủ nghĩa tương đối văn hoá hậu hiện đại»: hiểu một cách cực đoan, chủ nghĩa này bao hàm ý tưởng «vô thông ước» (incommensurability) giữa các đơn vị văn hoá, cơ sở lý thuyết, nghịch lý thay, không phải của sự bao dung mà của sự bất dung văn hoá, đồng minh vô tình của chiến tranh. Phê phán phần nào thôi, bởi vì một sự phê phán trọn vẹn chủ nghĩa tương đối văn hoá đòi hỏi chúng ta phải cùng phiêu lưu vào lãnh địa của triết lý khoa học, và phần bổ túc này chỉ có thể là đối tượng của một bài luận khác. Tất cả giới hạn trong khả năng hiểu biết khiêm tốn của người viết, tất nhiên.

1) "THƯỢNG ÐẾ CHẾT RỒI, DJIHAD MUÔN NĂM!"

Từ năm 1993, thế giới chính trị văn hoá sôi động về một bài báo của tác giả người Mỹ Samuel P. Huntington: «The Clash of Civilizations? » («Cuộc Ðụng Ðộ Giữa Các Nền Văn Minh») (1). Ðến sau một thời gian khá dài hệ tư tưởng hiện đại của nền văn minh Tây Phương bị liên tục đả phá, ngay trong và ngay bởi giới khoa học Âu Mỹ, rồi sự xuất hiện sau đó của «chủ nghĩa tương đối văn hoá» ở một số trào lưu «hậu hiện đại», bài báo trở thành một trong những tựa sách bán chạy nhất này đã được bàn tán sâu rộng trong cả hai giới chính trị và khoa học Âu Mỹ. Ðược minh hoạ bằng «Cuộc Chiến Tranh Vùng Vịnh» năm 1990, cuộc tấn công khủng bố vào Trung Tâm Thương Mại Thế Giới và Ngũ Giác Ðài ngày 11/09/2001, rồi cuộc «Chiến Tranh Phòng Ngừa» chống Irak của Hoa Kỳ mới đây, các luận điểm cảnh báo của Huntington còn được sự hỗ trợ bất ngờ của Ronald F. Inglehart, một chuyên gia về những thay đổi giá trị và văn hoá, dựa trên một cuộc thăm dò dư luận quốc tế vào loại quy mô nhất từ trước đến nay: «Cuộc Ðiều Tra Toàn Cầu Về Giá Trị» («World Values Survey L’Enquête Mondiale Sur Les Valeurs») (2).

Nhưng trước hết, hãy trở lại với điển mẫu (paradigm) thế chiến mới của Huntington. Theo tác giả này, thế giới đang bước vào một thời kỳ tranh chấp khác. Nếu cùng với cuộc cách mạng Pháp, loại chiến tranh giữa các tập đoàn vua chúa đã nhường chỗ cho loại chiến tranh giữa các quốc gia, thì ngày nay chiến tranh nhân dân, kể cả chiến tranh tư tưởng hệ, cũng đã lại cáo chung. Từ nay, cùng với sự tan biến của chiến tranh lạnh, nếp gấp giữa các nền văn minh sẽ thay thế loại biên giới chính trị và tư tưởng hệ như đầu mối của mọi cuộc khủng hoảng và tranh chấp đẫm máu trên thế giới. Nói cách khác, tất cả các hình thức chiến tranh từ trước đến nay đều chỉ là một thứ «nội chiến bên trong nền văn minh Tây Phương. Cuộc thế chiến lần tới, nếu lại xảy ra, sẽ đối lập các nền văn minh khác nhau» (1, tr. 247). Xem văn minh như «một thực thể văn hoá (…), là hình thức tập hợp văn hoá cao nhất, đồng thời là nhân tố quy định bản sắc văn hoá rộng nhất của loài người», được định nghĩa «bằng những yếu tố khách quan như ngôn ngữ, lịch sử, tôn giáo, tập quán, định chế», và nhất là «bằng cái quá trình tự đồng nhất hoá chủ quan của những người cùng chia sẻ các yếu tố ấy» (1, tr. 239), Huntington phân biệt từ sáu đến tám nền văn minh lớn trên thế giới (3): Tây Phương, (Kitô Giáo và Tin Lành), Trung Hoa (Khổng Giáo), Nhật Bản (Thần Giáo, Phật và Khổng Giáo), Hồi Giáo, Ấn Ðộ (Hindu Giáo), Xlavô (Chính Thống Giáo), Mỹ-La Tinh, và có thể, Phi Châu Hạ Sahara. Tuy sự phân định ranh giới còn khá nhiều mù mờ, điều quan trọng ở đây là: «Phần đông, các nền văn minh lớn đều tự đồng nhất qua trường kỳ lịch sử với một đạo giáo (4) lớn. Trái lại, những tập hợp cư dân cùng một sắc tộc và ngôn ngữ, nhưng lại không theo cùng một đạo giáo, vẫn có thể kình chống lẫn nhau, như tại Liban, cựu Liên Bang Nam Tư, và trên tiểu lục địa Ấn Ðộ»… (1bis, tr. 39). Vẫn theo Huntington, «cuộc đụng độ giữa các nền văn minh» sẽ xảy ra ở hai mức độ. Ở mức độ thấp, những tập hợp tiếp giáp với các nếp gấp giữa các hệ thống văn hoá sẽ tranh chiến với nhau bằng vũ khí, để xâm chiếm biên giới, đất đai và xác lập ưu thế của mình. Ở mức độ cao, những quốc gia có tranh chấp về quân sự và kinh tế thuộc nhiều nền văn minh khác nhau sẽ tìm cách kiểm soát các định chế quốc tế, và kết hợp đồng minh nhằm phổ biến những giá trị đạo giáo chính trị của mình. Trong bối cảnh mới này, theo ông, nền văn minh Tây Phương sẽ rơi vào thế cô lập, phải đơn thân đương đầu với phần còn lại của cả thế giới, với trước mặt là một liên minh Khổng-Hồi tiềm tàng (Trung Hoa với một số cường quốc Ả Rập), vừa hùng mạnh vừa đông đảo. Tất nhiên, các luận điểm «phiêu lưu» và bi quan của Huntington đã bị phê phán kịch liệt, và đánh giá như một kiểu «tiên-tri-tự-thành» (self-fulfilling prophecy). Ðể trả lời, có lẽ tác giả chỉ cần viện dẫn những biến cố trên chính trường quốc tế từ sau cuộc chiến tranh lạnh; nhưng ông còn có thể dựa trên một đồng minh uy tín khác. Nhìn dưới quan điểm xã hội hay kinh tế học, «điển mẫu Huntington» (sự trường tồn và trọng lượng của các giá trị đạo giáo truyền thống trên quá trình phát triển) hoàn toàn đối lập với «điển mẫu cổ điển» về vấn đề này (sự phát triển kinh tế và tiến trình hiện đại hoá là một hình thức thế tục hoá, có khả năng làm các giá trị truyền thống và đạo giáo suy đồi). Khởi đi từ ý muốn kiểm chứng một số luận điểm của Max Weber, nhà xã hội học Inglehart đã khai thác cuộc điều tra đại quy mô nói trên về các hệ thống giá trị tại nhiều vùng văn hoá khác nhau trên thế giới, để đi đến kết luận rằng, hoàn toàn trái với sự chờ đợi của ông, cuộc thăm dò dư luận đã bất ngờ xác nhận nhiều giả thiết của Huntington. Thứ nhất, đường ranh đạo giáo vẫn còn mạnh mẽ một cách đáng kinh ngạc trong thập niên đầu thế kỷ thứ 21 này: tại hầu hết các quốc gia, truyền thống đạo giáo vẫn tiếp tục quy định hệ thống giá trị đương đại; và ngay tại những vùng kỹ nghệ hoá, tình cảm đạo giáo vẫn còn bền chặt, mặc dù việc hành đạo có phần giảm sút. Thứ hai, các hình thái văn hoá kết hợp với nhau vô cùng chặt chẽ(trong cùng một khuôn văn hoá, khi biết giải đáp của người được thăm dò trên một biến số, nhà thống kê có thể tiên đoán khá đúng giải đáp của họ trên nhiều biến số khác); hơn nữa, sự phân lập các vùng đạo giáo - văn hoá dường như cũng xác nhận trên đại thể những nếp gấp của Huntington. Ðây là lần đầu tiên điển mẫu «sự đụng độ giữa các nền văn minh» được đem ra kiểm chứng bằng phương pháp thực nghiệm, và phần nào được xác nhận. Tất nhiên, phần nào không có nghĩa là tất cả, và nhiều luận điểm của Huntington vẫn còn thiếu tính thuyết phục, chưa nói đến lời phán quyết cuối cùng, bao giờ cũng chỉ tùy thuộc vào sự diễn tiến khách quan của lịch sử. Dù sao, câu kết luận trong bài báo của tác giả có thể được xem là vô cùng sáng suốt và thận trọng. «Ðiều mà tương lai dành cho chúng ta không phải là một nền văn minh phổ quát, mà là một thế giới được tạo lập bởi nhiều nền văn minh khác nhau, trong đó mỗi thành viên đều phải học tập sống chung với những thành viên khác» (1, p. 252). Một yêu cầu hoàn toàn phù hợp với định đề khai sinh của nhân chủng học: sự đơn nhất của nhân loại trên cơ sở đa tạp chủng tộc về văn hoá. Nhưng liệu ngày nay Huntington còn có thể trông cậy trên những nhận định tương ứng ở môn học này chăng?

2) NHÂN CHỦNG HỌC: TỪ THUYẾT TIẾN HOÁ

Nhà chính trị học Huntington không phân biệt, hoặc thậm chí đối lập «văn minh» với «văn hoá», như ở một số tác giả khác (3). Nhưng thực thể mà ông gọi là «văn minh»chính là «cái toàn thể phức hợp bao gồm cả kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo lý, pháp luật, tập quán và những khả năng hay thói quen khác mà con người đã tiếp thu được như thành viên của xã hội», tức định nghĩa về «văn hoá» mà Edward B. Tylor đã đề xuất vào năm 1871 (xem 5, tr. 2-3). Trở thành định nghĩa chuẩn của văn hoá từ đấy, nó khẳng định như một định đề: con người là sinh vật duy nhất do sự sống tập thể mà sản sinh ra văn hoá, dù nhìn như một đơn vị của nhân loại hay như thành viên của một xã hội cá biệt. Các sinh vật khác, dù ít nhiều có trí khôn và dù biết sống tập thể, cũng chỉ có khả năng thực hiện được một vài công trình -đôi khi khá phức tạp như tổ ong- dựa trên bản năng và di truyền. Văn hoá, trái lại, là sản phẩm của sự sáng tạo và giao tiếp, dù là văn hoá của loài người nói chung hay văn hoá của một dân tộc nói riêng. Văn hoá, như vậy, chính là sản phẩm đặc thù, là nét đặc trưng của con người ở mọi cấp bậc. Trước hết, con người như một sinh vật bình thường, một thứ «nòi tình» có đủ tất cả mọi nết hay, tật xấu: đó là văn hoá theo nghĩa của các nhà nhân chủng học. Nhìn xuống, nó là tất cả những gì con người đã tạo tác ra để khẳng định sự siêu việt của mình trên các loài cầm thú, để không bị đồng hoá với các giống loại thấp kém hơn. Nhìn ngang, nó là tất cả những gì con người đã sản sinh ra để đối phó với những thách thức của cuộc sống, để xác định vị trí và tương quan của mình với thế giới vô hình, với giới tự nhiên, với cộng đồng xã hội, với đồng loại, v. v... Sau đó, con người như một sinh vật thượng đẳng, một thứ «chủ thể» được lý tưởng hoá với tất cả những đặc tính cao quý nhất: đó là văn hoá theo nghĩa của các nhà mô phạm. Bởi vì từ thân phận tầm thường, con người luôn luôn nhìn lên một vị trí cao đẹp hơn; do đó, văn hoá, dù trong bối cảnh nào, cũng sẽ mãi mãi là một tiến trình tự đấu tranh, tự đánh giá, tự gạn lọc: gìn giữ, vất bỏ, cải đổi, thu nhận, truyền đạt... Nhưng chấp nhận văn hoá làm đường ranh giữa con người với súc vật là tự đặt ngay cho mình hai bài toán khó. Ðầu tiên, cái khả năng «siêu hiện» («émergence»: xuất hiện ở một mức độ cao hơn) trên mọi giống loài của con người để tạo tác ra văn hoá này đến từ đâu, và tác động ra sao? Những nét văn hoá phổ quát tìm thấy trong mọi xã hội (như luật ngăn cấm loạn luân chẳng hạn) đến từ tự nhiên (nghĩa là từ não hoặc từ gien), từ nhu cầu xã hội, hay từ tác động qua lại của cả hai? Sau đó, nếu nhân loại là một, làm sao có thể giải thích, hay biện minh cho những bất đồng, hoặc nhiều khi tương phản về đạo lý, kiến thức, xã hội… quá hiển nhiên trong nhiều lối sống cực kỳ khác biệt trên thế giới? Giải đáp cho cặp câu đố trên đã luân phiên chiếm lĩnh sân khấu lịch sử của nhân chủng học qua suốt 200 năm tồn tại (5). Trước hết, có lẽ nhân chủng học đã thực sự bắt đầu vào thế kỷ 18, khi nhà tự nhiên học Buffon cho rằng loài người xuất phát từ một nguồn gốc duy nhất, song đã tự phân nhánh dưới ảnh hưởng của nhiều vùng khí hậu khác nhau. Với trào lưu «Khai Sáng» trong cùng thế kỷ, loài người không những chỉ có cùng gốc rễ mà còn chia sẻ với nhau một định mệnh chung là sự «tiến bộ». Do đó, tất cả mọi khác biệt về văn hoá thực chất chỉ là những chênh lệch trên bậc thang tiến hoá, tương tự như trong học thuyết của Charles Darwin về giới tự nhiên (tương tự thôi, bởi vì ở Darwin, không có giả định tiến bộ mà chỉ có một sự phân hoá ngày càng phức tạp). Ðứng từ đỉnh Tây Phương văn minh cực lạc này nhìn xuống, tất cả các nền văn hoá khác đều chỉ được phép mang một trong ba nhãn hiệu: «truyền thống», «sơ khai», hoặc tệ hơn cả là «mọi rợ ». Tự trang bị bằng «thuyết tiến hoá» («evolutionism»), từ thế kỷ 19 các nhà nhân chủng học thi nhau phát hiện bao nét «mới lạ» qua loại bút ký, trần thuật của các giới thương khách, thực dân và thám hiểm: nào là «chế độ mẫu hệ» («matriarchy» - Johannes Bachofen), «chuyên chế phụ quyền» («patriarchal despotism» - Henri S. Maine), nào là tục «tạp hôn sơ khai» và «hôn chế dị tộc» («primitive promiscuity», «exogamy» - John MacLennan), tục «sùng bái vật tổ» («totémism» - James G. Frazer); nhưng nổi tiếng hơn cả là khái niệm «não trạng sơ khai» («mentalité primitive») của Lucien Lévy-Bruhl. Khởi đầu là người nghiên cứu về đạo lý và chính trị, sự nghiệp nhân chủng học của tác giả đột phát vì những khó khăn vấp phải khi ông phiên dịch sang Pháp ngữ một số tác giả và tác phẩm… Trung Hoa. Từ 1910, ông xây dựng một học thuyết khá đồ sộ chung quanh quan điểm là có một thứ não trạng hoàn toàn đối lập với đầu óc thuần lý Tây Phương, cho đến khoảng 1935, khi ông bắt buộc phải thú nhận rằng giả thuyết của mình là hoàn toàn không thể bảo vệ được. Ngược lại, cũng chính nhờ sự phê phán đích đáng những suy diễn quá giản lược trong việc áp dụng chủ thuyết Darwin vào xã hội con người ở thuyết tiến hoá mà ngành nhân chủng học trong thế kỷ 20 đã có thể tự lột xác. Suốt hai thập niên 1930-1950, «chức năng luận» («fonctionnalism») dần dần lấn át thuyết tiến hoá tại Anh Quốc. Trường phái mới này thực hiện những cuộc nghiên cứu thực địa, không quan tâm mấy đến lịch sử, và từ chối xếp các nền văn hoá trên cùng một bậc thang tiến hoá. Ðối với Bronislaw Malinowski, thay vì là dấu vết của sự tiến hoá, mỗi yếu tố nhân văn trước hết đáp ứng một nhu cầu tập thể, nghĩa là đảm nhận một chức năng nào đấy trong hệ thống xã hội (như một cơ quan trong thân người), và do đó, nó chỉ có thể được hiểu trong tương quan với toàn bộ hệ thống. Theo lối phân tích của các tác giả đồng quan điểm này, chức năng tạo ra định chế xã hội và mọi kiến trúc văn hoá thượng tầng khác. Alfred R. Radcliffe-Brown nghiên cứu các nhu cầu và chức năng ấy dưới góc cạnh tái sản xuất các quan hệ xã hội, và đánh giá mỗi đơn vị văn hoá như một giải đáp, độc đáo và chặt chẽ, cho cùng một số thách đố phổ quát của loài người. Ở Mỹ, «văn hoá luận» («Culturalism») cũng thắng thế từ thập niên 1930. Khuynh hướng này xem văn hoá như một siêu thực thể biệt lập với mọi cá nhân và quan hệ xã hội, một thứ di sản truyền từ đời này sang đời khác với những đổi thay thường không mấy đáng kể, nghĩa là một thứ bản chất thứ hai quy định «cá tính cơ bản» («basic personnality») của mỗi thành viên trong xã hội («văn hoá là di truyền xã hội», Ralph Linton, 1936). Người đứng đầu trường phái, Franz Boas, cũng được xem là cha đẻ của «chủ nghĩa tương đối» trong nhân chủng học, khi ông khẳng định rằng không một nền văn hoá nào tiến hoá hơn cái khác, mỗi nền văn hoá là một chỉnh thể độc đáo mà phong cách riêng được thể hiện qua ngôn ngữ, tín ngưỡng, tập tục, phong cách, nghệ thuật, v. v… Từ thập niên 1950, «cấu trúc luận» («Structuralism»Structuralism) cũng thao túng các ngành học thuật tại Pháp. Áp dụng những thành tựu của ngôn ngữ học vào các hệ thống biểu hiệu (systèmes symboliques), Lévi-Strauss cho rằng các sản phẩm văn hoá dù khác biệt đến đâu cũng đều được xây dựng theo một số quy luật chung, dựa trên những cấu trúc trí tuệ trừu tượng phổ quát của con người (như đối lập, giao hoán, hoán vị, phân loại…). Mặc dầu hai tựa đề phảng phất giống nhau, tác phẩm «Tư Tưởng Hoang Dã» («La Pensée Sauvage», 1962) của ông hoàn toàn phủ định «Não Trạng Sơ Khai» («La Mentalité Primitive», 1922) của Lévy-Bruhl: khoa học Tây Phương và pháp thuật Phi Châu là hai loại «kiến thức» song song chứ không phải nối tiếp, chúng khác nhau về hiệu lực song vẫn sử dụng cùng một số thao tác trí tuệ dựa trên những đồ thức (schèmes) phổ quát của tư duy con người. Do đó, các nền văn hoá khác biệt chỉ là những biến tấu trên cùng một chủ đề, và đều đáng kính trọng như nhau, bởi vì không có một tiêu chuẩn hợp nhất nào cho phép ta kết luận rằng cái này là cao hơn cái kia về mọi mặt, để biện minh cho việc sắp xếp chúng trên một bậc thang tiến bộ duy nhất cả. Ngoài «cấu trúc» («structure»), nhiều tác giả Pháp cùng môn phái còn sử dụng đồng thời hai khái niệm khác là «cấu trúc hoá» («structuration»)«tái cấu trúc» («Restructuration ») để nhấn mạnh trên tính năng động của các hiện tượng và sự uyển chuyển của phương pháp nghiên cứu. Mặt khác, các lý thuyết dựa trên sinh học, gọi chung là «chủ nghĩa Darwin xã hội» («Social Darwinism», cũng ào ạt quay lại từ thập niên 1970 ở Mỹ, với nhiều quan điểm mới. Các nguyên tắc «chọn lọc (đào thải) tự nhiên»«tiến hoá» vẫn còn được xem như loại sơ đồ trừu tượng thích hợp cho việc hình dung ra tính năng động của các nền văn hoá, nhưng văn hoá không còn là phó sản phẩm đơn thuần của những điều kiện sinh lý nữa mà tồn tại như một lãnh vực có vận động riêng. Theo Edward O. Wilson, quy luật chọn lọc tự nhiên hỗ trợ các gien đã mang sẵn một tính năng nào đó tiếp nhận thêm những nét văn hoá tương ứng, rồi các bộ phận văn hoá được triển khai từ vựa di truyền bẩm thụ này ảnh hưởng trở lại trên các gien, cứ thế gien bẩm năng và nét văn hoá tương tác tạo ra một thứ gien tinh thần trong quá trình tiến hoá. Nhà tập tính học (éthologist) Richard Dawkins xem nền văn hoá của mỗi nhóm người như một tập hợp những đơn vị mà ông gọi là «mem» («memes») hay «gen văn hoá» («culturegenes») - tức là những ý tưởng sơ đẳng của một nền văn hoá (như ý tưởng Thượng Ðế, ý tưởng lửa, v. v…); các mem có thể liên kết với nhau tạo ra những phức hợp để tăng sinh lực trong cuộc cạnh tranh sống còn (Allah + lửa địa ngục =… Thánh Chiến?). Mem được gieo truyền từ não này sang não khác chủ yếu thông qua phép mô phỏng; sự sao phỏng đôi khi có cải biến, và các mem biến tính sẽ hoặc biến mất hoặc nẩy nở theo quy luật tiến hoá để tăng cường hay cản trở tính năng động của toàn bộ hệ thống. Nhưng quan trọng nhất vào cuối thế kỷ 20 là chủ nghĩa «tương đối văn hoá hậu hiện đại» («post-modern What is cultural relativism?»)trong các ngành khoa học xã hội nói chung - phản đề cực đoan trước một thứ học thuyết lấy Tây Phương làm trung tâm vẫn chưa chịu cáo chung. Tiếp nối văn hoá luận Mỹ trong ý nghĩ (khá phổ biến từ giữa thế kỷ 20) là nhà khoa học không thể nào xếp hạng các nền văn hoá, bởi vì không thể dùng giá trị của bất cứ một tập hợp văn hoá nào để đánh giá các tập hợp khác, nhiều tác giả đã nhảy từ phán đoán giá trị sang phán đoán thực tại, khi khẳng định rằng mỗi nền văn hoá tương ứng với một thế giới quan hoàn toàn biệt lập - nghĩa là, do cả ngôn ngữ (mỗi thứ tiếng tự nó cũng đã là một thế giới quan biệt lập), phương thức tư duy («não trạng sơ khai», «não trạng lý tính») lẫn hệ thống giá trị (cái «thiện Phương Ðông», cái «đẹp Tây Phương») đều sai khác, giữa các nền văn hoá không thể nào có sự hiệp thông, hiểu biết, thông cảm với nhau, mà chỉ vĩnh viễn có sự vô thông ước. Nhưng nếu quả thật là không có cơ sở gì để đối chiếu hay so sánh các tập hợp văn hoá với nhau, thì cũng không làm gì có một bộ môn nhân chủng học hay văn hoá học đáng gọi là khoa học, mà chỉ có những biểu văn vô giá trị, bởi vì vừa bất tương hợp vừa có thể sai bét từ đầu đến cuối. Sự cảm thông sẽ là một ngoại lệ, hay một trường hợp cá biệt của ngộ nhận nếu thích nói tếu - và quy luật ngộ nhận phổ quát có thể dẫn đến cái gì khác, ngoài sân si, khinh miệt, oán thù, và chiến tranh, y hệt như cái biểu đề mà chủ nghĩa tương đối văn hoá được đặt ra để phủ nhận? Nếu lời nói đầu trong tuyên ngôn ra đời của cơ quan văn hoá Liên Hiệp Quốc Unesco là đúng –«chiến tranh bắt nguồn từ tâm trí con người» (…), và từ «sự thiếu cảm thông giữa các dân tộc»-, thì chủ nghĩa tương đối văn hoá hậu hiện đại đang vô tình góp phần xây nền cho các cuộc thánh chiến sắp tới.

3) «KHOA HỌC VỀ CÁC XÃ HỘI NHÌN TỪ BÊN NGOÀI»:

NHỮNG ẢO GIÁC VÀ TRỰC GIÁC CỦA NHÂN CHỦNG HỌC

Trên chợ trời kiến thức, nhân chủng học thường phất phơ giữa một nhãn hiệu thực tế -«khoa học về các xã hội nhìn từ bên ngoài» -, và hai đánh giá trái ngược. Ðồng tình tích cực: cái nhìn từ bên ngoài là một bảo đảm khoa học, «vì người trong cuộc thường không đủ khách quan để tự tìm hiểu mình một cách đúng đắn». Nghi vấn tiêu cực: «làm sao người ngoài có thể hiểu được những phong tục, tín ngưỡng, tình cảm thâm sâu của một dân tộc mà họ không phải là thành viên?», kiểu nghiên cứu này là đầu mối của mọi ngộ nhận! Dù sao, trước sự thiếu vắng của một đội ngũ chuyên gia xuất thân từ các nước Nam bán cầu, nhân chủng học quốc tế vẫn chủ yếu là một khoa học Tây Phương, với tất cả những thành tựu chân xác cũng như các huyền thoại, ngụy thuyết của nó. Trước hết, những ảo giác. Ở đây, nhiều học thuyết và khái niệm đã trở thành văn chương huyền ảo để cuối cùng, sau một thời gian ngự trị, bỗng «cuốn theo chiều gió» trong chớp mắt: bên cạnh não trạng sơ khai nói trên, câu chuyện vật tổ là một điển hình khác. Cũng không thiếu gì những chuyện cười ra nước mắt, xứng đáng được ghi lại trong các pho tiếu lâm của bất cứ dân tộc nào. Ðiều đáng lưu ý là hầu như tất cả mọi ảo giác này đều xuất phát từ định kiến đi tìm một sự đối lập triệt để, tuyệt đối nào đó giữa nền văn minh Tây Phương với các hệ thống văn hoá khác. Ðược miêu tả phần lớn trong loại bút ký của giới thương gia và thám hiểm vào cuối thế kỷ 18, hiện tượng «vật tổ» («totem») được John F. MacLennan liên hệ với tổ chức thị tộc, tục thờ cúng linh vật, những ngăn cấm giới tính và kiêng kỵ thực phẩm, rồi lý thuyết hoá từ năm 1865 (trong một đề mục nổi tiếng ở «Chamber's Encyclopedia») như một giai đoạn phổ quát của xã hội loài người. Trở thành định chế nền tảng của tôn giáo và xã hội, đây là đối tượng nghiên cứu của hầu hết những tên tuổi lớn trong môn học. Ngoài «Vật Tổ và Cấm Kỵ» («Totem und Tabu», 1912) của Sigmund Freud -nơi mặc cảm Oedipe chào đời, đồng thời là một bi kịch hùng tráng ngang ngửa với những kịch bản trứ danh nhất của Shakespeare-, còn có «Tín Ngưỡng Vật Tổ và Hôn Chế Dị Tộc» («Totemism And Exogamy», 1910) của James Frazer và «Những Hình Thái Sơ Ðẳng Của Ðời Sống Tôn Giáo» («Les Formes Elémentaires De La Vie Religieuse», 1912) của Emile Durkheim. Nhưng từ thập niên 1930, thuyết tín ngưỡng vật tổ bắt đầu tan rã: các nhà nhân chủng học lớp sau dần dà chứng minh được rằng vật tổ là một hiện tượng đa dạng và đa nghĩa, không luôn luôn có những liên hệ mà MacLennan giả thiết ở trên. Trong «Tín Ngưỡng Vật Tổ Ngày Nay» («Le Totémisme Aujourd’hui», 1962) Claude Lévi-Strauss chỉ giữ lại yếu tố chính: sự lấy tên động vật, thực vật hay hiện tượng tự nhiên để đặt cho thị tộc, và xem đấy như là cách một thị tộc xác định sự tồn tại biệt lập của mình đối diện với các thị tộc khác; sự phân cắt xã hội thành từng vật tổ thị tộc như vậy, theo Lévi-Strauss, chỉ biểu hiện một đặc tính của trí óc con người: nhu cầu tư duy về thế giới chung quanh bằng cách sắp xếp nó theo những phạm trù lý trí. Khi người Bororos, một sắc dân trong vùng Amazonie tự hào họ là những con Araras (một giống két to nhiều màu), nhà dân tộc học Ðức Karl Von den Steinen lúc đầu không muốn tin, nhưng rốt cuộc rồi cũng phải công nhận rằng khi nói như thế, họ không hề ám chỉ đến kiếp trước hay kiếp sau, hoặc đang làm văn nghệ, mà khẳng định họ thực sự là những con araras trong hiện tại. Câu chuyện kỳ quái này có một sự nghiệp khoa học khá đồ sộ, và đã làm không chỉ các nhà nhân chủng học tiếng tăm (ngoài Lévy-Bruhl, còn có Emile Durkheim, Marcel Mauss, Clifford Geertz) mà cả các giới bác học khác (nhà tâm lý giáo dục Lev Vygotsky, triết gia Ernst Cassirer) cũng phải bận tâm bình luận lai rai suốt từ năm 1897. Ðể vỡ lẽ, nhà nhân chủng học Christopher Crocker trở lại tận nơi để điều tra, và công bố các chi tiết sau vào năm 1977: 1) trong xã hội Bororos, chỉ có đàn ông tự nhận mình là araras, một thứ két do đàn bà nuôi dạy; 2) quan hệ gia tộc ở đây được tổ chức theo mẫu hệ, và người chồng phải về sống bên nhà vợ. Phải cần đến 80 năm để hiểu một phúng dụ mà các lão tổ Bororos dùng để chế diễu thân phận nam nhi của mình! «Não trạng sơ khai» hoàn toàn trái ngược với «lý tính Tây Phương» , song lại khá gần gũi với «óc hài hước British»? Theo Nicolas Journet, người kể lại câu chuyện lý thú này, còn có cả ngàn trang như vậy trong biết bao sách bác học (5, tr. 164). Ðiều may mắn là không chỉ có ảo giác. Dù nhìn từ bên ngoài, đây là cái nhìn của đồng loại. Và trừ phi giản lược nhân loại vào một tập hợp dã thú đi bằng hai chân, có ngôn ngữ và lý trí, song vẫn chỉ biết sống nhờ bản năng và di truyền, không thiết cả tư duy lẫn sáng tạo, hay trao đổi và học hỏi…, thì khái niệm «nhân loại» bắt buộc phải có một nội dung văn hoá (như cùng chia sẻ một số giá trị chẳng hạn). Tất nhiên, các nền văn hoá đều khác nhau, song có thật là khác đến độ trở thành «vô thông ước», khi con người cùng có chung một cơ cấu sinh lý, một cấu trúc trí não, cùng phải sống thành cộng đồng? Ở đây, mỗi trường phái nhân chủng học thật ra đều dựa trên một số trực giác khả thủ, dù nhiều khi đã khai thác chúng quá lố theo một hướng nào đó. Ngay cả ở thuyết tiến hoá. Ngày nay, những điều có thể được xem như đã bị phủ nhận là sự áp đặt các vùng Tây Âu - Bắc Mỹ như khuôn mẫu văn hoá, là quan niệm lịch sử đơn tuyến, là chủ nghĩa khoa học (sự tin tưởng rằng khoa học có thể giải quyết mọi vấn đề, rằng tiến bộ khoa học sẽ kéo các lãnh vực khác cùng tiến theo) - nghĩa là hệ tư tưởng lấy Tây Phương làm trung tâm. Nhưng sự từ chối sắp xếp các nền văn hoá trên cùng một bậc thang tiến hoá (vì không có tiêu chuẩn hợp nhất nào cho phép thiết lập một trật tự toàn bộ như thế), không có nghĩa là trong một lãnh vực nào đó và dưới một góc cạnh nào đó, người ta không thể so sánh các giải đáp của hai đơn vị văn hoá trên cùng một vấn đề liên hệ. Có thể xem khoa học và pháp thuật là bình đẳng về nhân phẩm, vì chúng cùng sử dụng một số thao tác trí tuệ dựa trên những đồ thức phổ quát của tư duy con người, nhưng chắc chắn không thể đặt chúng ngang hàng về mặt hiệu lực trong việc tạo tác tiện nghi vật chất cho xã hội. Bài bác thuyết tiến hoá xã hội và chủ nghĩa tiến bộ không bắt buộc phải đồng nghĩa với sự tự bịt mắt trước những bước tiến có thật vô cùng hiển nhiên trong một số lãnh vực hạn định. Dù các quan điểm mới của loại học thuyết mang tên «Darwin xã hội» nói ở phần trên chưa hội đủ tính thuyết phục, cái trực giác đáng lưu giữ ở đây là vai trò của hạ tầng sinh lý trong việc xây dựng thượng tầng văn hoá. Trừ phi chủ xướng rằng con người khắp năm châu không thuộc về cùng một giống loài, khác biệt về văn hoá chỉ có thể biến thiên trên cùng một cơ sở sinh lý, một cấu trúc trí não. Về quá trình học tập chẳng hạn, các khoa học nhận thức ngày nay đều cho rằng trí não con người không tài nào tiếp thu nổi lượng thông tin khổng lồ phải vận dụng nếu không được thiên nhiên chuẩn bị trước. Theo Noam Chomsky, trẻ em không thể học ngôn ngữ nếu không có chương trình tương ứng lập sẵn trong não; điều này có nghĩa là, dù cấu trúc của Hoa ngữ và Pháp ngữ chẳng hạn khác nhau đến đâu, các ngôn ngữ tự nhiên đều cùng thuộc về một loại. Qua nhiều cuộc nghiên cứu thực nghiệm, tâm lý học nhận thức cũng chứng minh rằng ngay trẻ thơ, dù không cùng văn hoá song nếu được dạy dỗ đứng đắn, cũng có thể thu nhận những ý niệm căn bản (như nhân quả, thời gian, vật thể, sinh vật, quan hệ, v. v…) một cách dễ dàng và nhanh chóng do được chuẩn bị sẵn. Như vậy, những khác biệt về nhận thức giữa các nền văn hoá chắc chắn là có, nhưng thực ra chúng chỉ là những biến thiên từ một tiến trình học tập phổ quát mà chương trình đã được lập sẵn trong não. Từ định nghĩa văn hoá như một hệ thống ký hiệu do con người tạo tác và sử dụng để hiệp thông với nhau, mặt thái quá của chủ nghĩa tương đối văn hoá có lẽ đã xuất phát từ việc vừa quay lại lấy ngôn ngữ làm nền tảng cho văn hoá, vừa xem mỗi ngôn ngữ như một thế giới quan biệt lập. Ở đây, giả thuyết Sapir-Whorf (Edward Sapir và Benjamin L. Whorf) thường được viện dẫn làm cơ sở, với các luận điểm sau: 1) mỗi ngôn ngữ là một cách thức mô tả thế giới khác nhau (hành động, vận động, không gian, thời gian, v. v…); 2) mỗi nền văn hoá đều bị quy định bởi «phần hạ tầng» của ngôn ngữ qua đó nó được thể hiện hàng ngày, và phần này chính là nơi chôn giấu những cách thức tư duy của ngôn ngữ mà Whorf gọi là «ẩn mô» (cryptotypes); 3) do đó, những người sử dụng ngôn ngữ khác nhau sẽ không tư duy về thế giới và không nhận thức không gian, thời gian, v. v… giống nhau. Nói cách khác, cấu trúc văn phạm và từ vựng của ngôn ngữ quy định vô cùng chặt chẽ phương cách con người nhận thức và tư duy (6). Thường được viện dẫn để bênh vực giả thuyết Sapir-Whorf là những cuộc nghiên cứu về nhận thức màu sắc trong ngôn ngữ của nhiều dân tộc khác nhau: nói chung, sự phân loại màu sắc rất co giãn và dường như không theo một quy luật nào cả. Nhưng năm 1969, một cuộc điều tra thực địa của Brent Berlin và Paul Kay đã đưa ra kết quả trái ngược: lần này, sự phân loại màu sắc trong mọi ngôn ngữ đều tuân theo những quy luật đồng nhất (dù thuộc nền văn hoá nào, người được thăm dò cũng nhìn nhận trắng, đen, đỏ, vàng như những màu nguyên, và loại bỏ nâu, tím chẳng hạn). Do đó, có thể xem là chính di sản sinh lý chung của con người đã quy định sự nhận thức và phân loại nói chung, và màu sắc nói riêng, độc lập với những biến thiên văn hoá. Từ thập niên 1970, loại luận điểm bẩm sinh (mọi khuôn khổ tư duy của con người đều bị quy định bởi các cơ chế thần kinh tâm lý căn bản và phổ quát) ngày càng thắng thế, nhờ những công trình của Jean Piaget bên tâm lý học (những giai đoạn bắt buộc của sự phát triển tư duy lôgic), và của Noam Chomsky trong ngôn ngữ học (cấu trúc ngôn ngữ bề sâu). Tuy trường phái bẩm sinh chưa đưa ra được chứng cớ thuyết phục về những cấu trúc ngữ nghĩa phổ quát nằm trong mọi ngôn ngữ tự nhiên, giả thuyết Sapir-Whorf có lẽ cũng đã hết hiệu lực. Muốn tiếp tục tác động, ngày nay chủ nghĩa tương đối văn hoá cần phải tìm ra những điểm tựa khác. Ngoài cơ sở sinh lý chung, con người còn là sinh vật sống trong xã hội. Dù bị phê phán rất đúng là thiếu kích thước lịch sử, chức năng luận đã đền bù bằng một số trực giác thích đáng cho việc nghiên cứu hệ thống ký hiệu gọi là văn hoá, bằng cặp khái niệm «nhu cầu» - «chức năng»। Mọi nền văn hoá đều có thể được xem như một giải đáp có tổ chức của xã hội trước những nhu cầu tập thể cơ bản. Ngoài loại nhu cầu vật chất sơ đẳng (lương thực, quần áo, nhà cửa…) còn có những nhu cầu tinh thần (hiểu biết, hành xử, tiêu khiển…); do đó, xã hội nào cũng phải có ở thượng tầng một số tiêu chuẩn để phân biệt đúng/sai (ở đâu cũng có một số hiểu biết sơ đẳng), phải/trái (ở đâu cũng có một số ngăn cấm), khoái lạc/bực bội (ở đâu cũng có một số hình thức nghệ thuật). Mặt khác, từ bó buộc tiếp xúc với bên ngoài, mọi xã hội đều có nhu cầu đổi mới (những xã hội tự khép kín hoặc đã bị tiêu hủy, hoặc đang trên đường diệt vong); và do đó, cũng phải có tiêu chuẩn để hiệp thông, gạn lọc (gìn giữ, vất bỏ, thu nhận…) trước những yếu tố ngoại lai. Nói cách khác, xã hội nào cũng phải có một số giá trị cơ bản, được biểu hiện bởi các nét văn hoá hoặc định chế mà chức năng là hướng dẫn mọi thành viên xã hội theo định hướng chung, trong hai tiến trình quyết định khả năng sống còn là hấp thụ nền văn hoá của tổ tiên để lại (enculturation) và biến dung văn hoá (acculturation) do sự cọ xát với các loại giải đáp tập thể khác.

Còn tiếp............

BÀN VỀ TỰ DO


Tác phẩm Bàn về tự do của John Stuart Mill (1806-1873), một nhà triết học thực chứng, một nhà logic học, nhà kinh tế học, nhà chính luận và nhà hoạt động xã hội người Anh, được xuất bản lần đầu tiên tại Anh vào năm 1859.

Toàn bộ nội dung tác phẩm Bàn về tự do toát lên quan niệm chủ đạo của tác giả cho rằng, tự do của mỗi người tìm thấy giới hạn của mình trong tự do của người khác; rằng, tự do xã hội là ranh giới giữa sự kiểm soát xã hội và sự độc lập của cá nhân. Đối với ông, mỗi người cần được tự do mưu cầu hạnh phúc riêng của mình "trong chừng mực ta không mưu toan xâm phạm đến hạnh phúc của người khác hoặc ngăn trở những nỗ lực của người khác đạt được hạnh phúc. Mỗi người là người bảo vệ chính đáng nhất cho sự lành mạnh của anh ta, dù là sự lành mạnh thân thể, tinh thần hay tâm linh". John Stuart Mill bảo vệ quyền của các cá nhân để họ được "sống hạnh phúc theo ý của họ, hơn là bắt họ sống hạnh phúc theo ý những người xung quanh".

Sự tự do của con người được John Stuart Mill đề cập đến gồm: a)tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do thảo luận; b)tự do về sở thích, tự do đặt kế hoạch cho cuộc sống theo sự xét đoán của mình; và c)tự do hội họp.
Mặc dù Bàn về tự do được John Stuart Mill viết cách đây đã gần một thế kỷ rưỡi nhưng có nhiều điều ông nói vẫn còn nguyên giá trị. Chẳng hạn, "điều mong muốn bây giờ là người cầm quyền phải được đồng nhất với nhân dân, rằng quyền lợi và ý chí của họ phải là quyền lợi và ý chí của quốc gia". Hoặc: "Đa số dân chúng vẫn chưa học được chuyện cảm nhận quyền lực của chính phủ là quyền lực của mình, hay ý kiến của chính phủ là ý kiến của mình".

Chúng ta cũng có thể tìm thấy trong Bàn về tự do những nhận xét, những sự đánh giá mang ý nghĩa đạo đức, ý nghĩa giáo huấn bổ ích, những lời khuyên về việc phải hành động sao cho đúng, về phương pháp rèn luyện phẩm hạnh của con người. "Một người có thể làm điều xấu cho những người khác không chỉ bằng hành động của mình mà còn bằng cả việc không hành động nữa, trong cả hai trường hợp này, anh ta đều phải chịu trách nhiệm với họ về sự tổn hại gây ra". Hoặc: "Nếu một người nắm công quyền, hay thậm chí một thường dân, nhận thấy có bất cứ chứng cớ nào của việc chuẩn bị phạm tội, thì họ không bắt buộc phải thụ động ngồi nhìn chờ cho tội ác được hoàn tất, mà có thể can thiệp để ngăn chặn nó".

John Stuart Mill khẳng định rằng, không được coi thường phẩm chất đạo đức riêng tư cũng như các giá trị đạo đức xã hội, cho nên "công việc của giáo dục là phải chăm lo vun trồng cả hai mặt". Để giáo dục đạt kết quả tốt thì bên cạnh việc dạy dỗ, thuyết phục còn cần "áp dụng cả biện pháp cưỡng bách", nhưng "chỉ có thông qua phương pháp thuyết phục thì phẩm hạnh cá nhân mới bám rễ bền chắc".

Cũng có thể tìm thấy trong phần trình bày đề tài tự do ý kiến về cách thức phải tôn trọng người đối thoại, tôn trọng chân lý nhưng không được giáo điều để dẫn đến làm mất sức sống, mất giá trị của những học thuyết, những tư tưởng mang tính chân lý. Đối với John Stuart Mill, "con người phải được tự do hình thành ý kiến và tự do bày tỏ ý kiến không chút giấu giếm". Bởi vì, "bản chất con người không phải là cái máy được chế tạo ra theo một khuôn mẫu và nhằm làm đúng một công việc định trước, mà nó giống như cái cây cần được lớn lên và phát triển ra mọi phía tùy theo khuynh hướng của sức mạnh bên trong nó, cái sức mạnh làm cho nó là một sinh vật". Quyền tự do chính là điều kiện văn hóa cần thiết cho sự phát triển và sự bộc lộ tài năng của con người không chỉ vì lợi ích của cá nhân con người, mà còn vì lợi ích lâu dài và sự phát triển bền vững của toàn xã hội.

Do được viết cách chúng ta đã gần một thế kỷ rưỡi cho nên Bàn về tự do của John Stuart Mill không tránh khỏi những hạn chế. Một trong những hạn chế đó là việc ông không bảo vệ sự bình đẳng của các dân tộc trong việc phải được tự do như nhau, nhất là việc các dân tộc bị áp bức, bị đô hộ không được ông bảo vệ tự do trong quyền tự quyết về chính trị. Đây là một trong những mâu thuẫn mà John Stuart Mill không tự giải quyết được. Một hạn chế khác là ông quá tin vào sự tốt đẹp của tương lai nhân loại chỉ thông qua đối thoại và trải nghiệm, thông qua thảo luận tự do, thông qua phẩm chất tự biết sửa chữa sai lầm của con người. Lịch sử hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX và các cuộc chiến tranh khác đang diễn ra hiện nay chỉ cho chúng ta thấy rằng một niềm tin như của John Stuart Mill vào các phẩm chất trên là chưa đủ để đảm bảo cho tương lai tốt đẹp của nhân loại, mặc dù đó cũng là đòi hỏi của thời đại toàn cầu hóa mà chúng ta đang sống. Loài người còn cần phải có những hành động cụ thể, thiết thực nhằm ngăn chặn những ai và những gì đi ngược lại lý tưởng của nhận loại là tự do, bình đẳng, bác áo và được sống trong hạnh phúc.

Đọc Bàn về tự do (Do GSTSKH Nguyễn Văn Trọng dịch- NXB Tri thức-2005), chắt lọc những gì là có ích, là giá trị trong đó chắc chắn ít nhiều sẽ góp phần làm phong phú thêm của tư duy chúng ta.

Nguyễn Trọng Chuẩn

Nguồn tin: Tia Sáng

hay ban co the doc tai : Luận về Tự Do (Cao Hùng Lynh dịch)

Thứ Tư, 12 tháng 3, 2008

TRONG CÕI - TQV


Tác phẩm "Trong cõi" của cố GS Trần Quốc Vượng do NXB Trăm Hoa, California xuất bản năm 1991 bao gồm những bài nói chuyện, phát biểu trong thời gian SG sang Mỹ - tác phẩm hiện chưa phổ biến ở VN nhưng trong giới học giả Phương Tây tác phẩm này được đánh giá khá cao - về một mặt nào đó ( bỏ qua khía cạnh chính trị của tác phẩm) thì đây là cuốn sách hay nói về Văn Hóa VN quá khứ cũng như hiện tại xin giới thiệu cùng quý độc giả cùng đọc và suy ngẫm một TP còn sót của của "vị SG lắm tài nhiều tận" này.

MỤC LỤC

1. Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng
2. Mấy ý kiến về trống đồng và tâm thức Việt cổ
3. Từ huyền tích đến lịch sử (mấy vấn đề phương pháp luận và phương pháp cụ thể)
4. Tây Sơn Quang Trung và công cuộc đổi mới đất Việt ở thế kỷ XVIII
5. Đô thị cổ Việt Nam
6. Vị thế địa-lịch sử và bản sắc địa-văn hoá của Hội An
7. Một cách nhìn văn hoá học về Văn Miếu - Quốc Tử Giám
8. Hội hè dân gian
9. Căn bản triết lý người anh hùng Phù Đổng và hội Gióng
10. Triết lý trầu cau
11. Triết lý bánh chưng bánh dày
12. Một thời đã qua, một thời đang tới
13. Dân gian và bác học
14. Việt Nam: 100 năm giao thoa văn hoá Đông-Tây
15. Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia (Kinh nghiệm điền dã)
16. Xây dựng một nền văn hoá Việt Nam nhân bản, dân tộc, dân chủ, khoa học
17. Nỗi ám ảnh của quá khứ

Địa chỉ dow sách tại:http://ifile.it/zoh9jdg

222 magnify
-------------->TỦ SÁCH VĂN HÓA HỌC <--------------

"The End of History?"


Võ Tấn Phong dịch


Mười lăm năm trước, trong cuốn Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng (The End of History and the Last Man), tôi đã viết là, nếu một xã hội muốn hiện đại hóa, không có lựa chọn nào khác hơn là một nền kinh tế thị trường và một hệ thống chính trị dân chủ. Không phải ai cũng muốn được hiện đại, dĩ nhiên rồi, và không phải ai cũng có thể lập ra những thiết chế và chính sách cần thiết để nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản được thành công, nhưng không có hệ thống nào khác đem lại kết quả tốt hơn.

Trong khi cuốn Sư cáo chung của lịch sử vì thế về bản chất là một lý luận về hiện đại hóa, một số người lại gán ghép luận thuyết của tôi về sự cáo chung của lịch sử với chính sách đối ngoại của Tổng thống George W. Bush và quyền bá chủ có tính chiến lược của Mỹ. Nhưng nếu ai đó cho rằng những suy nghĩ của tôi là nền tảng lý luận cho những chính sách của chính phủ Bush thì người đó đã không để ý đến những gì tôi đã nói từ năm 1992 về dân chủ và phát triển.

Tổng thống Bush lúc đầu đã biện hộ cho việc can thiệp vào Iraq trên lý do là những chương trình phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt của Saddam, mối liên hệ giữa chính quyền Iraq và al-Qaida, cũng như sự vi phạm nhân quyền và thiếu dân chủ của Iraq. Khi hai lý do đầu tiên sụp đổ lúc mở màn cuộc xâm chiếm năm 2003, chính quyền Mỹ ngày càng nhấn mạnh vào sự quan trọng của dân chủ, cả ở Iraq và ở mức độ lớn hơn là vùng Trung Đông, như một yếu tố căn bản cho hành động của mình.

Bush nói rằng mong ước tự do và dân chủ là phổ quát và không phụ thuộc vào văn hóa, và rằng nước Mỹ sẽ tận lực hỗ trợ những phong trào dân chủ “với mục tiêu cuối cùng là chấm dứt chính thể bạo ngược trên thế giới.” Những người ủng hộ chiến tranh thấy quan điểm của họ được củng cố ở những ngón tay đen màu mực của những cử tri Iraq xếp hàng đi bầu trong những cuộc bầu cử giữa tháng 1 và tháng 12 năm 2005, trong cuộc Cách mạng Tuyết Tùng ở Lebanon [1] , và trong những cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội ở Afghanistan.

Dầu những sự kiện này có phấn khởi và hy vọng đến mấy, con đường đến nền dân chủ tự do ở Trung Đông có lẽ cực kỳ gây thất vọng trong tương lai gần, và những cố gắng của chính phủ Bush nhằm xây dựng một chính sách vùng quanh nó đang thất bại thê thảm.

Chắc chắn là niềm mong mỏi được sống trong một xã hội hiện đại và được thoát khỏi chính thể bạo ngược phổ quát, hoặc cũng gần như phổ quát. Nó được minh chứng bằng cố gắng của hàng triệu người mỗi năm di cư từ những nước đang phát triển sang các nước phát triển, ở nơi mà họ hy vọng tìm thấy ổn định chính trị, cơ hội việc làm, y tế, và giáo dục, vốn không có ở quê nhà họ.

Nhưng chuyện này khác với nói rằng có một mong muốn phổ quát được sống trong một xã hội tự do – nghĩa là, một trật tư chính trị được quy định bằng những quyền cá nhân và và hệ thống luật pháp. Mong ước được sống trong một nền dân chủ tự do, thực vậy, là cái đạt được dần theo thời gian, thường là một phụ sản của quá trình hiện đại hóa thành công.

Hơn nữa, mong ước được sống trong một xã hội dân chủ tự do không nhất thiết phải chuyển thành hành động thực tế. Chính phủ Bush dường như trong chính sách hậu-Saddam cho rằng cả nền dân chủ và một nền kinh tế thị trường là những điều đương nhiên xảy ra trong xã hội một khi chính quyền bạo ngược được xóa bỏ, chứ không phải là một loạt những thiết chế phức tạp, phụ thuộc lẫn nhau cần phải được cẩn thận bồi đắp dần dần.

Rất lâu trước khi có một nền dân chủ tự do, cần phải có một nhà nước vận hành tốt (cái không hề bị biến mất ở Đức hay Nhật sau khi bị thua trận ở Thế Chiến II). Đây là cái chúng ta không thể coi là điều đương nhiên ở những quốc gia như Iraq.

Sự cáo chung của lịch sử không hề nói đến một mô hình xã hội hay tổ chức chính trị đặc trưng kiểu Mỹ nào cả. Kế tục Alexandre Kojève [2] , triết gia Pháp gốc Nga, người đã gây hứng cho lập luận ban đầu của tôi, tôi tin rằng Liên hiệp châu Âu (European Union) phản ánh chính xác thế giới sẽ ra sao vào lúc lịch sử cáo chung hơn là Liên bang Hoa Kỳ. Cố gắng của Liên hiệp châu Âu nhằm vượt qua nền chính trị chủ quyền và quyền lực truyền thống bằng cách thiết lập một hệ thống luật pháp xuyên quốc gia, là gần gũi với một thế giới “hậu-lịch sử” hơn là niềm hằng tin vào Chúa, vào chủ quyền quốc gia, và vào quân sự của người Mỹ.

Cuối cùng, tôi không hề liên hệ sự phát triển dân chủ toàn cầu với hành động của Mỹ, và đặc biệt không liên hệ với việc sử dụng sức mạnh quân sự Mỹ. Những chuyển tiếp sang dân chủ cần phải được thúc đẩy bởi những xã hội muốn dân chủ, và bởi vì xã hội muốn dân chủ thì cần có những thiết chế, nó thường là một quá trình khá lâu dài và khó nhọc.

Những cường quốc bên ngoài như Mỹ thường có thể thúc đẩy quá trình này bằng cách làm gương tốt như những xã hội chính trị và kinh tế thành công. Họ cũng có thể cung cấp tài chính, cố vấn, trợ giúp kỹ thuật, và đúng vậy, đôi khi dùng quân sự để thúc đẩy quá trình đó. Nhưng cưỡng bức thay đổi chế độ không bao giờ là lời giải đáp cho sự chuyển tiếp dân chủ cả.




[1]Nguyên văn “Cedar Revolution in Lebanon”: một loạt các cuộc biểu tình của dân chúng Lebanon (nhất là thủ đô Beirut) tiếp sau sự ám sát cựu thủ tướng Rafik Hariri vào 14 tháng 2 năm 2005, dẫn đến sự triệt thoái của quân đội Syria khỏi Lebanon, và chính quyền dân chủ được bầu nên. Cedar (cây tuyết tùng, là biểu tượng trên quốc kỳ Lebanon).
[2]Alexandre Kojève (1902-1968): nhà triết học Pháp gốc Nga có ảnh hưởng lớn đến nền triết học Pháp thế kỷ 20.


Nguồn: http://www.project-syndicate.org/commentary/fukuyama3
Nguyên bản tiếng anh có tại địa chỉ : http://ifile.it/ei1cb6z

Nguyên bản tiếng việt có tại: http://ifile.it/ei1cb6z

Sự va chạm giữa các nền văn minh - Samuel Huntington


Sự đụng độ giữa các nền văn minh là một lý giải của Samuel Hungtington về những mâu thuẫn và xung đột trên thế giới hiện nay, đồng thời là một lời cảnh báo đối với nhân loại về nền hoà bình và tương lai của thế giới.

Tên đầy đủ của cuốn sách này là: “Sự va chạm của các nền văn minh và việc thiết lập lại trật tự thế giới” (The Clash of civilization and the remaking of world order).

Samuel Hungtington không phải là người đầu tiên nói về sự va chạm của các nền văn minh. Ý tưởng và sự cảnh báo về sự đụng độ giữa các nền văn minh đã xuất hiện ngay từ giữa thế kỷ XX, do nhà sử học nổi tiếng người Anh Arnold Toynbee đề xướng.

Năm 1993, S. Hungtington, khi đó là Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược thuộc Đại học Harvard, đã có bài viết mang tính dự báo: “Sự va chạm của các nền văn minh?”. Tiêu đề đó cho thấy tác giả của nó có phần hoài nghi: liệu có khả năng xảy ra sự đụng độ giữa các nền văn minh trong thế kỷ XXI hay không? Và thực tế, nội dung của bài viết đã nói lên rằng sự đụng độ là điều khó tránh khỏi. Năm 1996, Hungtington tiếp tục phát triển dự báo của mình thành cuốn sách “Sự va chạm của các nền văn minh và việc thiết lập lại trật tự thế giới”.

Một thế giới của các nền văn minh khác biệt

Trong cuốn sách của mình, S. Hungtington đã vẽ lại bức tranh chung về các nền văn minh khác nhau trên thế giới. Về cơ bản, ông phân chia nhân loại thành 2 bộ phận là văn minh phương Tây và văn minh ngoài phương Tây, trong đó văn minh phương Tây đóng vai trò trung tâm trong các phân tích của ông, là điểm tham chiếu để xem xét các nền văn minh khác ngoài phương Tây.

Trên cơ sở xác định các nền văn minh chủ yếu của thế giới, Hungtington tiếp tục làm sáng tỏ những thay đổi về cán cân giữa các nền văn minh, giải thích sự thoái trào của văn minh phương Tây và quá trình phục sinh các nền văn minh ngoài phương Tây. Ông cũng chỉ ra một trật tự mới của các nền văn minh cùng với sự tái định hình nền chính trị toàn cầu thông qua văn hoá.

Một trong những phát hiện của S. Hungtington là sự nhìn nhận vai trò của nhà nước chủ chốt trong sự hình thành và phát triển của một nền văn minh nhất định. Đó là nhà nước dẫn đầu của khối các nhà nước đồng văn, đồng chủng và đồng ngôn (ngôn ngữ). Hungtington đã có những phân tích đáng ngạc nhiên về 2 trường hợp của nước Nga (với các nước láng giềng) và Trung Hoa đại lục (với các nước Đông Á) nhằm minh chứng cho luận điểm này.

Sự đụng độ giữa các nền văn minh

Quan điểm này xuất phát từ chỗ cho rằng, trong thế giới mới đang hình thành, nguồn gốc của các xung đột sẽ không còn là hệ tư tưởng và kinh tế nữa, mà là văn hoá, hay nói chính xác hơn, sự khác biệt giữa các nền văn hoá là cơ sở của các nền văn minh khác nhau.

Hungtington định nghĩa văn minh như là một cộng đồng văn hoá bậc cao, là mức độ rộng nhất của tính đồng nhất văn hoá của con người. Ông khẳng định, những khác biệt giữa các nền văn minh có ý nghĩa căn bản hơn so với những khác biệt giữa các hệ tư tưởng chính trị và các chế độ chính trị. Theo Hungtington, trong thế kỷ XXI, sự xung đột giữa các nền văn minh sẽ là nhân tố chủ đạo của nền chính trị thế giới, đặc biệt là giữa văn minh phương Tây và văn minh không phải phương Tây.

Hungtington đã phân tích các nhân tố cơ bản đẩy loài người đi tới sự xung đột giữa các nền văn minh. Qua đó, ông kết luận: sự va chạm của các nền văn minh được triển khai theo 2 cấp độ là vi mô và vĩ mô.

Ở cấp vi mô, những nhóm người sống dọc theo các tuyến đứt gãy giữa các nền văn minh đang tiến hành đấu tranh, thường là có đổ máu, để giành giật đất đai và quyền lực đối với nhau. Ở cấp vĩ mô, các nước thuộc các nền văn minh khác nhau đang cạnh tranh giành ảnh hưởng trong lĩnh vực quân sự và kinh tế, tranh giành quyền kiểm soát các tổ chức quốc tế và các nước thứ ba, cố gắng khẳng định các giá trị chính trị và tôn giáo của mình.

Hungtington dự báo, sự va chạm giữa các nền văn minh sẽ đưa lại 2 hệ quả quan trọng: một là, các trục chủ yếu của nền chính trị thế giới sẽ là quan hệ giữa phương Tây và phần còn lại của thế giới; hai là, trong tương lai, lò lửa xung đột cơ bản sẽ là mối quan hệ qua lại giữa phương Tây và một loạt các nước Hồi giáo - Khổng giáo.

Tương lai của các nền văn minh hay tương lai của thế giới

Những tư tưởng của S. Hungtington trong cuốn sách này đã mở ra hướng đi mới cho cộng đồng thế giới trong việc tìm kiếm giải pháp để hạn chế những xung đột quốc gia, khu vực và toàn cầu do sự khác biệt của các nền văn minh gây ra. Xu hướng khả thi và tích cực nhất có lẽ là hướng tới cuộc đối thoại giữa các nền văn minh, để đưa nhân loại xích lại gần nhau hơn.

Ngày 2/11/2001, ngay sau sự kiện khủng bố ngày 11/9 làm xấu đi mối quan hệ giữa phương Tây và thế giới Hồi giáo, UNESCO đã lập tức thông qua “Tuyên bố chung về sự đa dạng văn hoá” - một văn kiện được đánh giá là quan trọng không kém so với "Tuyên bố chung về quyền con người". Tuyên bố này đã phát triển những luận giải của S. Hungtington thành một kết luận mang ý nghĩa toàn cầu: đối thoại giữa các nền văn hoá là sự bảo đảm tốt nhất cho hoà bình thế giới.

UNESCO cũng đã xác định chủ đề đối thoại giữa các nền văn minh là mục tiêu chiến lược của mình trong giai đoạn 2002-2007. Ngày 9/11/2001, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc cũng đã thông qua nghị quyết “Chương trình nghị sự chủ yếu để đối thoại giữa các nền văn minh” với một chương trình hành động cụ thể đề ra cho tương lai.

Có thể nói, những động thái đó của tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới đã cho thấy nỗ lực to lớn của cộng đồng quốc tế nhằm kiến tạo một nền hoà bình vĩnh cửu cho nhân loại, trong đó cuộc đối thoại giữa các nền văn minh được xem là mục tiêu lớn nhất cần đạt tới. Và theo một nghĩa nào đó, những kết quả nghiên cứu của S.Hungtington đã không chỉ dừng lại ở giá trị lý luận, mà còn góp phần hướng nhân loại vào những hành động thực tế cấp thiết để duy trì và phát triển thế giới này trong sự tồn tại hoà bình và bền vững.


Xuân Tùng



Mục lục


Bản chất của các nền văn minh

Tại sao các nền văn minh không tránh khỏi đụng độ với nhau?


Tại sao lại như vậy?


Ranh giới giữa các nền văn minh


Tập hợp nền Văn minh: Hội chứng ”quốc gia thân tộc”


Phương Tây đốí đầu với phần còn lại của thế giới

Các nước phân rã

Khối Nho giáo - Hồi giáo


Những hàm ý đối với Phương Tây

Chú thích



Bản tiếng anh


Địa chỉ dow sách : http://ifile.it/9mfu07s

Kiến trúc khu vực Ðông Á


Kiến trúc khu vực Ðông Á: những phối trí an ninh và kinh tế mới và chính sách của Hoa Kỳ

Dick K. Nanto

(Tường trình RL33653 của CRS cho Quốc hội Hoa Kỳ 18 tháng Chín, 2006)

Khiêm dịch

Tóm tắt

Sự kết thúc của chiến tranh lạnh, sự trỗi dậy của Trung Quốc, toàn cầu hóa, các thỏa ước mậu dịch tự do, cuộc chiến chống khủng bố, và cách tiếp cận qua các thiết chế để gìn giữ hòa bình đang gây nên những sự chuyển hướng ngoạn mục trong quan hệ giữa các quốc gia Đông Á. Một kiến trúc khu vực mới ở dạng các phối trí chính trị, tài chính, và mậu dịch giữa các quốc gia Đông Á, đang được hình thành, và sẽ có tác động đáng kể đối với chính sách và quyền lợi của Hoa Kỳ. Bản tường trình này thẩm định lại kiến trúc khu vực này với trọng tâm là Trung Quốc, Nam Hàn, Nhật Bản, và Đông Nam Á. Những kiểu phối trí bao gồm các Thỏa ước Mậu dịch Tự do Song phương (FTA), các hiệp ước mậu dịch khu vực, các phối trí tiền tệ, và các phối trí an ninh và chính trị.

Kiến trúc khu vực Đông Á được chống đỡ bởi hai chân chống riêng biệt. Chân chống kinh tế rất vững và đang lớn mạnh hơn. Một mạng lưới các FTA khu vực và song phương đang phát triển. Cả FTA Đông Á (gồm 13 quốc gia) lẫn FTA Á Châu (gồm 16 quốc gia) đang được thảo luận cùng lúc. Ngược lại, chân chống an ninh và chính trị vẫn còn tương đối kém phát triển. Bước tiến bộ nhất đã được thực hiện với Hiệp hội các Quốc gia Đông
Nam Á (ASEAN) đóng vai trò người triệu tập các hội nghị và có dạng của Cộng đồng An ninh ASEAN (10 quốc gia Đông Nam Á) và Diễn đàn Khu vực ASEAN (25 quốc gia, gồm cả Hoa Kỳ). Ở Đông Bắc Á, các cuộc đàm phán sáu bên nhằm hướng tới giải quyết chương trình hạt nhân của Bắc Hàn đang được tổ chức như một sự vụ riêng lẻ.

Khi chính sách của Hoa Kỳ đối với các phối trí an ninh và kinh tế ở Đông Á tiến hóa, nó hướng đến các vấn đề cường độ, sự dung nạp thành viên, và kết cấu chung cuộc. Hoa Kỳ có nên tăng cường các cố gắng của mình hoặc để cản trở hoặc để hỗ trợ kiến trúc này? Ai sẽ được bao gồm trong các phối trí này? Có nên chỉ liên kết các quốc gia châu Á? Về mặt kinh tế, chính sách hiện tại của Hoa Kỳ có vẻ giữ thế thủ, qua cách không cố ngăn chặn những nỗ lực nhằm tạo ra những FTA riêng cho các nước châu Á, mà tìm cách ký kết các giao ước để thủ lợi từ các FTA đó. Về mặt an ninh, quyền lợi của Hoa Kỳ gắn với sự ổn định, chống khủng bố, và giải trừ vũ khí ở Đông Á lớn đến mức Hoa Kỳ đã tìm một ghế tại bàn hội nghị khi các quốc gia Á Châu gặp gỡ để bàn bạc và thường chủ động dẫn dắt các nỗ lực để giải quyết các vấn đề còn tranh cãi. Thượng Đỉnh Đông Á loại trừ Hoa Kỳ, song Washington đã triệu tập một Diễn đàn Khu vực Đông Bắc Á, bao gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, và
Nam Hàn.

Tâm điểm của các quan ngại của Hoa Kỳ đối với kiến trúc khu vực đang phát triển ở Đông Á là ảnh hưởng đang tăng của Trung Quốc. Nguy cơ đang tồn tại là, nếu Trung Quốc khống chế được các thiết chế khu vực ở Đông Á, nó có thể lái chúng theo hướng có hại cho quyền lợi của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, một số quốc gia châu Á đang cảnh giác trước các ảnh hưởng quá mức của Trung Quốc và đang che chắn và khéo léo vận động chống lại nguy cơ bị Trung Quốc khống chế. Các quốc gia khác có lẽ sẽ bác bỏ một chính sách kềm chế Trung Quốc một cách lộ liễu của Hoa Kỳ.

Câu hỏi cuối cùng để cân nhắc chính sách về các phối trí mậu dịch và an ninh ở Đông Á là kiến trúc đó sẽ có dạng nào. Thế giới kỹ nghệ hóa dường như đang tiến hóa thành ba khối riêng biệt, nhưng một cục diện phối trí an ninh và mậu dịch xuyên Thái Bình Dương là hoàn toàn khả thi. Bản tường trình này sẽ được cập nhật định kỳ.

Dick K. Nanto là Chuyên viên Mậu dịch và Kỹ nghệ, Phân ban Mậu dịch, Quốc phòng, và Đối ngoại.

toan van tieng viet tai dia chi: http://ifile.it/nrxawpv

toan van tieng anh tai dia chi: http://fpc.state.gov/documents/organization/75280.pdf

Contents


Reshuffling the Asian Deck..........................................5
Why Join Together?................................................6
Regional Trade Agreements..........................................8
Regional Economic and Financial Arrangements ........................10
Existing FTAs and Those Being Negotiated ........................10
Asia Pacific Economic Cooperation ..............................16
Proposed Asia Free Trade Area ..................................17
Cooperative Financial Arrangements ..............................18
Regional Political and Security Arrangements ..........................18
ASEAN and the ASEAN Security Community......................19
ASEAN + 3 (China, Japan, and South Korea).......................20
ASEAN Regional Forum.......................................20
East Asia Summit .............................................22
Shanghai Cooperation Organization ..............................23
The Six-Party Talks ...........................................24
The Proposed Northeast Asia Regional Forum ......................24
Track Two Dialogues..........................................25
The Pacific Command .........................................25
Policy Issues.....................................................26
U.S. Interests ................................................26
Visions for East Asia ..........................................28
Asian Regionalism and U.S. Interests .............................31
Economic Interests........................................31
Security Interests .........................................32
Policy Options ...................................................35
Disengage from Regional Institution Building in Asia ................35
Continue Current Engagement...................................36
Increase Regional Efforts.......................................38

List of Figures


Figure 1. Types of Trading Arrangements (by Intensity) ...................9
Figure 2. East Asian Regional Arrangements — Existing and Proposed ......20


List of Tables


Table 1. Regional Trade Agreements, Negotiations, and Discussions by
Selected East Asian and Other Nations ............................11


TRẬT TỰ THẾ GIỚI SAU CHIẾNH TRANH LẠNH


Sách do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia - Viện Thông tin Khoa học Xã hội ấn hành năm 2001 bao gồm 2 tập

Thực hiện bởi nhóm tác giả
Lại Văn Toàn (chủ biên)
Phạm Nguyên Long
Phạm Thái Việt



MỤC LỤC



TẬP I



Phần I

TRẬT TỰ THẾ GIỚI SAU CHIẾNH TRANH LẠNH


1. Thế giới sau chiến tranh lạnh. Phân tích và dự báo về trật tự thế giới ...... Lại Văn Toàn

2. Trât tự thế giới: Cũ và mới ...................................................................... Falk Richard

3. Sự đụng độ giữa các nền văn minh .................................................. Huntington Samuel

4. Cơ cấu địa chính trị thế kỷ XXI ...............................................................Utkin Anatoli

5. Thời đại sau chiến tranh lạnh chấm hết rồi chăng? .......................................... Li QingJin

6. Mấy vấn đề về sự phát triển đa cực hoá trên thế giới .................................. Chen De Zhao

7. Từ thuyến ổn định bá quyền đến thuyết ổn định đơn cực:
Sự trở lại chủ nghĩa hiện thực mới sau chiến tranh lạnh ............. Wang Yiwei & Tang Xiaosong

8. Những triển vọng của thế giới đơn cực trong thế kỷ XXI .............................Utkin Anatoli

9. Siêu cường đơn độc ............................................................................Huntington Samuel

10.Thế giới sẽ ra sao? Các kịch bản cho thế kỷ XXI ........................................ Hammond .A

11. Thế giới trong buổi bình minh của thế kỷ XXI
( Dự báo tình hình thế giới đến năm 2015) ................................................Phạm Thái Việt


TẬP II

Phần II

HỆ THỐNG QUAN HỆ QUỐC TẾ



12. Hệ thống quan hệ quốc tế đương đại ........ .........................................Phạm Thái Việt

13. Toàn cầu hoá các quan hệ quốc tế:
Xu thế khách quan hay là chiến lược của hoa kỳ ....................................... G.X.Khozin

14. Năm thực tế sẽ định hình nền chính trị của thế kỷ XXI
.............................................................................William.A.Gaston and Elaine C.Kmarck

15. Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng hoà ....................................Robert B. Zoellick

16. Tại sao người ta không yêu thích chúng ta? ................................ Stanley Hofmann

17. Nước Nga trong thế giới hiện đại:
Quan điểm của nhà chính trị và khoa học Mỹ .............................................. Mirskij.G

18. Nước Nga trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba ...................................V.I.Putin

19. Chiến lược và sách lược đối ngoại xuyên thế kỷ của Trung Quốc ................Gong Li

20. Nhật bản tìm kiếm vị thế cường quốc trong thế kỷ XXI ...........................Sun Cheng

21. Dự báo sự phát triển của Liên hiệp châu Âu trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI
......................................................................................................................Bùi Huy Khoái

Phần III

VỊ THẾ CỦA ĐÔNG Á TRONG TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI

22. Đông Á bước vào thế kỷ XXI ..................................................... Lại Văn Toàn

23. ASEAN trong thiên niên kỷ mới ......................................... Phạm Nguyên Long