Thứ Tư, 2 tháng 4, 2008

Hồ sơ mật Liên Xô


NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN

--------------------------------------
Thông tin về ebook :

HỒ SƠ MẬT LIÊN XÔ

Trọng Phụng và Văn Toàn biên soạn
NXB Công An Nhân Dân 2006
Khổ 14,5 x 20,5. Số trang : 583








Hồ sơ mật Liên Xô là cuốn sách được biên soạn dựa vào những tư liệu mới được công khai, những thư từ từng giấu kín, những tập hồi ký bị cấm lưu hành trong thời kỳ Đại Nguyên soái Stalin lãnh đạo Nhà nước Liên Xô. Nội dung sách bao gồm 12 chuyên án hình sự phức tạp nhưng chung một đề tài chuyên quyền, lộng hành, tranh giành ngôi vị độc tôn, tham vọng trở thành thần tượng. Những mưu mô ám muội, những toan tính tinh vi, những thủ đoạn tàn bạo được sử dụng chỉ nhằm loại trừ phe phái đối lập để ung dung ngồi vào chiếc ghế cao nhất trong chính quyền hoặc tiêu diệt những nhân vật lỗi lạc nổi trội để không còn ai hơn mình.

Mọi ý đồ đều xuất phát từ Điện Kremli, chủ mưu là những “chiến hữu thân cận nhất" từng đồng cam cộng khổ thời xây dựng chính quyền Xô Viết và thời nội chiến. Không thể không kể đến sự đồng lõa ấy là tính cả tin, sự buông lỏng và cả thói vô trách nhiệm của một tập thể nắm quyền lực tối cao.

"Bạo chúa" có "gian thần" phò tá thì âm mưu ám muội nào cũng thực hiện được.

Công cụ của "bạo chúa" là "gian thần", công cụ của "gian thần" là cơ quan quyền lực Chêka, các sát thủ chuyên nghiệp và những gã bác sĩ không có lương tâm nằm trong Cục Bảo vệ sức khoẻ lãnh tụ. Hành vi giết người mà dựa trên tiêu chí đạo đức "Kẻ thù của nhân dân ", “Tập đoàn phản cách mạng hoạt động chống nhân dân" thì nạn nhân rất khó tự bảo vệ và dễ ru ngủ tính cảnh giác của nhân dân.

Chỉ một chiếc ghế bành bọc nhung đỏ trong Điện Kremli mà Trôtxki và Stalin đều nhăm nhe, nhưng thế lực Stalin mạnh hơn, tính tàn bạo kiểu vua chúa Trung cổ ở Stalin thể hiện táo tợn, quyết đoán mưu mẹo hơn nên Stalin thắng.

Thời kỳ Stalin cai trị Liên Xô tồn tại một xã hội bưng bít, một xã hội thiên đường hoang tưởng, bắt đầu từ việc thần thánh hoá một cá nhân, thần bí hoá và không có cá tính hoá một cá nhân. Niềm vui, sở thích và thái độ của cá nhân ấy là những bí mật quốc gia đặc biệt quan trọng. Đó là tệ sùng bái cá nhân. Tệ sùng bái cá nhân tồn tại được phải dựa trên cơ sở loại trừ những người không cùng phe cánh và những người tài giỏi hơn. Nếu ai đó bị ông ta coi là kẻ thù thì không thể thay đổi được. Nạn nhân của tệ sùng bái cá nhân là những tướng lĩnh công huân, những vị lãnh đạo lão thành, các chính trị - kinh tế gia tài giỏi. Cơ quan đàn áp của Stalin ngụy tạo những chứng cớ về tội danh "Kẻ thù của nhân dân", “tập đoàn phản cách mạng hoạt động chống Liên Xô" để tiến hành những cuộc tàn sát, thanh trừng bất chấp đạo lý phi nhân tính.

Thể chế quốc gia dù rõ ràng, chặt chẽ mà người chấp hành thiếu tinh thần trách nhiệm đã có tác hại lớn.. Nếu vin vào thể chế, nấp sau thể chế để làm bậy thì sự ngang ngược ác hiểm càng đáng sợ hơn.

Lênin bị ám sát, "đồ đệ thân tín" của Người liền mượn gió bẻ măng, dựa vào việc chữa bệnh mà dùng thuốc phá hoại sức khoẻ của Người.

Có thể nói ẩn trong hào quang của vĩ nhân là những bi kịch - bi kịch quyền lực, bi kịch tình cảm. Sau khi từ trần, người sáng lập Nhà nước công nông đầu tiên của xã hội loài người bị các "đồ đệ” của mình bài xích khéo:

Stalin tâng bốc Lênin là nhà chuyên chính vô sản cứng rắn, thẳng tay với kẻ thù ... Lời tuyên bố này ngầm mách bảo cho mọi người biết "Lãnh tụ không có lòng khoan dung độ lượng”, đồng thời lại có tác dụng biện hộ cho những quyết định tàn bạo mà sau này Stalin thể hiện với các đồng chí của ông.
Khơrútsốp có những phát biểu vô ơn phủ nhận vai trò lịch sử của Lênin, xem Lênin như là một nhà cải cách máy móc bảo thủ "Chỉ biết bảo nông dân mùa này nên trồng cây gì".

Brêgiênhép nhìn nhận Lênin như là "ông cụ từ thiện hào nhoáng bên ngoài".
Người chết không thể tự biện hộ nên thoải mái chỉ trích, thậm chí thoá mạ.
Lênin mất đi, những phụ tá đắc lực nhất, thân thiết nhất của Người - những nhân vật góp công sức xây dựng tạo nên Nhà nước công nông bị bức hại dần dần, những cuộc thanh trừng vô ơn rất tàn bạo đó chỉ nhằm nâng cao uy tín cho người kế vị. Số phận Stalin cũng vậy, nó như một minh chứng cho luật nhân quả.

Bêria - cánh tay phải của Stalin, người chỉ đứng dưới một người mà trên cả muôn người đã ký một quyết định mang tính chất như một “lệnh tiêu diệt" tạo tiền đề cho việc ông ta mưu hại cấp trên của mình nhưng lại tỏ ra quan tâm săn sóc sức khoẻ cho Đại Nguyên soái: "Khi lãnh tụ bị ốm phải báo cho ủy viên Nhân dân An ninh (Bêria) biết, khi ủy viên Nhân dân An ninh có mặt bên bệnh nhân mới được phép gọi bác sĩ". Kết cục là: Stalin bị ngất, các "bề tôi trung thành", các “chiến hữu thân cận" vẫn ung dung: "Các người hoảng loạn nỗi gì, chẳng thấy lãnh tụ đang ngủ đó sao". Mười giờ sau họ mới “hoảng hốt" gọi bác sĩ đến cấp cứu !

Gấp cuốn sách lại mà như hiện ra toàn cảnh bức tranh xã hội của Liên Xô thời Stalin thoả sức dọc ngang. Lời nói của ông là pháp luật, sinh mạng con người không được coi trọng, nguyện vọng của con người bị xem nhẹ mới thấy lời nói sâu sắc, thấm đượm đạo lý nhân văn của nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười: "Từ dân, do dân, vì dân". Hiểu như thế thì chủ nghĩa cá nhân không còn đất sinh tồn.

Hồ sơ mật Liên Xô là cuốn sách tham khảo quý.
Nhà xuất bản Công an Nhân dân trân trọng giới thiệu cuốn sách với Quý vị độc giả.


DOWN LINK:
http://www.mediafire.com/?n2ggzmulv1z
or
dow here


Liên Bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam

http://www.danchimviet.com/php/images/122007/bandohaiphanVN_VHS.jpg


Thông tin ebook
Tên sách: Liên Bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam
Tác giả: Ilya V.Gaiduk
Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm xuất bản: 1998
Trích lời tác giả:

... Những tài liệu này gồm các báo cáo hàng quý, hàng năm của Đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội: báo cáo về các cuộc trao đổi của các quan chức Liên Xô và ngoại quốc; các báo cáo tin tình báo của KGB và GRU (tình báo quân đội), được chuẩn bị tại hai vụ quốc tế của Ban chấp hành Trung ương (Vụ quan hệ với các Đảng cộng sản và công nhân các nước tư bản chủ nghĩa, Vụ quan hệ với các đảng cầm quyền tại các nước xã hội chủ nghĩa) thực sự đã làm đảo lộn cách nhìn cũ của tôi về chính sách của Liên Xô đối với cuộc chiến Việt Nam cùng quan hệ của Matxcơva với đồng minh Bắc Việt Nam. Chính sách của lịch sử hóa ra không phải là trung thực và nhất quán như hoạt động tuyên truyền của những người cộng sản cố tạo dựng lên. Thay vào đó là một chính sách phức tạp và đầy tranh cãi, mâu thuẫn.

Ý tưởng viết một cuốn sách về chính sách của Liên Xô đối với chiến tranh Việt Nam thoạt đầu do các đồng nghiệp của tôi nêu ra. Sau khi đọc báo cáo của tôi chuẩn bị cho một hội nghị về bằng chứng mới trong lịch sử Chiến tranh Lạnh được tổ chức ở Matxcơva hồi tháng 1 năm 1993, họ đã động viên tôi tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này, và vì mục đích đó tôi sẽ sử dụng sáu tháng sang Mỹ để tìm tài liệu trong hồ sơ của Mỹ. Trên thực tế sự tổng hợp các tài liệu của Liên Xô và của Mỹ như vậy đã làm bức tranh toàn cảnh về chính sách của Liên Xô ở Đông Nam Á trong những năm chiến tranh đó ngày càng hoàn chỉnh và rõ ràng hơn.

Tuy nhiên, mùa gặt hái của các học giả tìm tài liệu trong hồ sơ lưu trữ của Nga đã nhanh chóng đi đến màn kết thúc ở Matxcơva. Một bằng cớ cho việc các quan chức Nga thay đổi hẳn chính sách đã được tìm thấy trong mớ tài liệu về Việt Nam, và việc tờ Thời báo New York đăng tải một báo cáo của Bắc Việt Nam về số lượng các tù binh chiến tranh người Mỹ. Điều này đã gây tranh cãi ngoại giao và hàng loạt lời buộc tội lẫn phản bác trong giới quan chức ở Nga, Mỹ và ở Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Quan trọng hơn là các nhà lãnh đạo Nga thừa nhận một cách muộn màng rằng các tài liệu để trong kho hồ sơ lưu trữ của Đảng có thể được dùng để phục vụ cho các mục đích chính trị của riêng họ và chỉ được đưa ra vào những thời điểm thích hợp, nhưng khôgn đưa ra công khai toàn bộ các tài liệu đó. Kết quả là các quan chức đã quyết định chấm dứt toàn bộ việc thu thập tài liệu ở Trung tâm lưu trữ nói trên, bao gồm cả các tài liệu về Cuộc chiến tranh Việt Nam. Lại một lần nữa các nhà sử học quan tâm đến Cuộc chiến Việt Nam phải đào bới tìm kiếm từng mẩu thông tin trong các ấn phẩm chính thức của Liên Xô, sách vở, các báo cáo của các giới chức thẩm quyền về hồ sơ lưu trữ của Nga trong nhiều hội nghị ở nước ngoài, và một số tài liệu được dành riêng cho các khách du lịch trong Trung tâm lưu trữ trên.

Trong bối cảnh như vậy, nhu cầu viết một cuốn sách dựa trên cơ sở chủ yếu là các tài liệu mật của Liên Xô cũng như các tài liệu được đưa ra công khai mới đây của hồ sơ lưu trữ Mỹ ngày càng trở nên cấp bách hơn. Hai mươi năm đã trôi qua kể từ khi kết thúc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, và chúng ta cần phải có sự đánh giá, phân tích khách quan và toàn diện về kết quả, cùng hậu quả của cuộc xung đột này đã ảnh hưởng khủng khiếp đến như thế đối với sinh mệnh của hàng ngàn người Mỹ và Việt Nam, cũng như đối với các quan hệ quốc tế trong Chiến tranh Lạnh...


Dow load ebooks



Churchill, Roosevelt, Stalin những ngày cuối Thế chiến II

Jon Meacham




"Franklin và Winston", cuốn sách của phó tổng biên tập tạp chí Newsweek Jon Meacham, mô tả quan hệ giữa Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston Churchill. Những phần trích sau đây ghi lại những cuộc thảo luận giữa Roosevelt, Churchill và Joseph Stalin năm 1943."



Những giây phút đẹp đẽ giữa Roosevelt và Churchill

Cuốn sách mới mang tên Franklin và Winston của phóng viên Jon Meacham, Phó Tổng biên tập tạp chí Newsweek, đi sâu vào mối quan hệ giữa Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston Churchill. Roosevelt đã trở thành bạn cũ của Churchill từ những ngày cuối cùng của Thế chiến II, trước cuộc họp của Tam trụ quân đồng minh Churchill, Roosevelt, Stalin ở Tehran tháng 12/1943Những giây phút đẹp đẽ giữa Roosevelt và Churchill

Cuốn sách mới mang tên Franklin và Winston của phóng viên Jon Meacham, Phó Tổng biên tập tạp chí Newsweek, đi sâu vào mối quan hệ giữa Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston Churchill. Roosevelt đã trở thành bạn cũ của Churchill từ những ngày cuối cùng của Thế chiến II, trước cuộc họp của Tam trụ quân đồng minh Churchill, Roosevelt, Stalin ở Tehran tháng 12/1943.

Trước thềm hội nghị Tehran, hai nhà lãnh đạo từng dự định gặp nhau tại Cairo, nhưng vì lo ngại vấn đề an ninh, nên Roosevelt đánh điện cho Churchill, thông báo "kẻ thù đã biết địa điểm họp" và đề nghị chuyển tới Khartoum. Ông Churchill đã nghĩ Cairo được lính Anh bảo vệ chắc chắn, nên có vẻ bông đùa khi bác bỏ mối lo ngại của Roosevelt: "Ông hãy đọc cuốn Saint John, chương 14, điều 1-4. Đừng để trái tim mình lo lắng: hãy tin vào Chúa và tin vào tôi... Tôi sẽ chuẩn bị một địa điểm cho ông".

Trong lúc bức điện đang được chuyển thì cũng là lúc Churchill bắt đầu tự lục vấn mình. Phải chăng ông đã quá khoa trương khi so sánh mình với Chúa? Hay ông đã quá vội vàng khi tuyên bố "hãy tin vào tôi"? Roosevelt sẽ nghĩ gì về ông? May mắn thay những tin tức tốt lành đã làm Churchill khuây khoả: Tổng thống Mỹ đã gạt sang bên mọi phản đối của các trợ lý và kế hoạch đến Cairo không hề thay đổi.

Thực ra, trong thâm tâm, chuyến đi này đối với Churchill chẳng vui vẻ và dễ chịu gì. Phần vì Churchill bị cảm lạnh, phần vì buồn do Mỹ không ủng hộ chiến dịch của Anh nhằm vào đảo Leros ở phía Đông Địa Trung Hải. Bà Clementine biết vậy và nhẹ nhàng cảnh báo Churchill nên thận trọng khi thảo luận với Roosevelt trong những ngày sắp tới. Bà dặn dò: "Đừng cho phép mình tức giận. Em thường nghĩ đến điều anh nói, điều tồi tệ nhất là Đồng minh không có Đồng minh!...".

Đến Cairo cùng với Thủ tướng Anh còn có con gái ông, cô Sarah Churchill, một diễn viên điện ảnh. Cô chưa bao giờ gặp Roosevelt trước đó và bị cuốn hút ngay khi gặp ông. Sarah bày tỏ lòng kính trọng về sự tinh thông của Tổng thống Mỹ.

Một ngày ở Cairo, Churchill đã nói với con gái: "Hãy chuẩn bị một chiếc xe. Cha muốn đi thăm Nhân sư và các Kim tự tháp. Cha muốn biết chúng ta và Roosevelt có thể thân thiết đến mức nào trong xe, nếu có thể, cha muốn "nắm" được vị tổng thống Mỹ này". Sau khi điều tra sơ bộ, hai cha con nhận thấy điều đó có thể thực hiện được. Vị Thủ tướng vội vã trở lại khu nhà nghỉ, tìm Roosevelt và nói: "Ngài Tổng thống, ông có thể tới thăm Nhân sư và Kim tự tháp cùng chúng tôi. Tôi đã chuẩn bị xong cả rồi". Sarah nhớ lại: Sự nhiệt tình của Churchill có sức mạnh đến mức Roosevelt gần như lao ra khỏi ghế, nhưng rồi chợt nhớ ra ông không thể làm như vậy và ngồi lại vào chỗ. Một chút sượng sùng. Quay sang Roosevelt, Churchill nói: "Chúng tôi sẽ đợi ông trong xe". Sarah đi theo cha. "Ngoài sân trời nắng đẹp", cô nhớ lại. "Tôi thấy mắt Tổng thống ánh lên những giọt nước mắt". Những nỗ lực của Churchill đã được đền đáp, nhưng ông rất thật lòng: "Tôi quý con người ấy".

Lễ Tạ ơn diễn ra khi hai nhà lãnh đạo đang ở Cairo. Roosevelt không quên mang theo hai con gà tây lớn đến góp vui và nói với Churchill: "Hãy coi nhau như người nhà". Hai vị lãnh đạo cùng ăn tối với gia đình dưới tiếng nhạc du dương, tiếng cụng ly hân hoan. Ngài Tổng thống chủ trì bữa tiệc rất chuyên nghiệp. Trong bữa ăn, Roosevelt đã giải thích lịch sử của ngày Lễ tạ ơn và liên tưởng tới những người lính Mỹ giờ phút này đang thưởng thức ngày lễ này ở khắp nơi trên thế giới. Roosevelt đã rất hài lòng chia sẻ niềm vui này với Thủ tướng Anh.

Hạnh phúc và vui vẻ, tất cả sang phòng hoà nhạc. Những bản nhạc Carry Me Back to Old Virginny, Marching Through Georgia và những giai điệu tương tự vang lên. Thủ tướng Anh đã làm Roosevelt ngạc nhiên khi mời Pa Watson, thư ký yêu quý của Tổng thống Mỹ, nhảy. Churchill nhớ lại: "Chỉ sau vài giờ, sự cẩn trọng không còn nữa. Không khí vô cùng thân mật". Bản thân ông Churchill cũng đã thừa nhận mình đã có một bữa tiệc cực kỳ vui vẻ, nồng ấm và thân thiết.

(Theo Newsweek)

dow load here

HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM

















dow load luận án

http://www.cse.buffalo.edu/~hungngo/BD/Nguyen-Nha-Thesis/HTML/C.%20MUC%20LUC.htm

http://gralib.hcmuns.edu.vn/gsdl/collect/tiensi/index/assoc/HASH0114.dir/doc.pdf



An Nam đại quốc hoạ đồ (1838) - phụ bản in trong: AJ. L. Taberd, Dictionarium Anamatico-Latinum (Serampore,1838), trong đó có ghi đảo Cát Vàng (Nguồn: www.thongluan.org)


Cuốn sách tập hợp các báo cáo khoa học và tư liệu mới của những cây bút sử học, nghiên cứu uy tín: Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Nhã, Lê Minh Nghĩa, Từ Đặng Minh Thu, Vũ Quang Việt về vấn đề tranh chấp trên biển Đông giữa các nước và nhất là chứng minh chủ quyền Việt Nam với hai quần đảo này trước luật pháp và công ước biển quốc tế. Cuốn sách cũng đưa ra những góc nhìn, thái độ của giới nghiên cứu về một vấn đề thời sự “nhạy cảm” của đất nước.

Ông Nguyễn Nhã lấy chính tài liệu của Trung Quốc là những bản đồ và đời Nguyên đến Minh, Thanh chứng minh trong lịch sử, Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) chưa bao giờ thuộc về người Trung Quốc. Ngay cả sau sự kiện 1.1974 Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng ở đảo Hoàng Sa, nhiều nhà khảo cổ người Hoa đến đây tham quan, khai quật nhiều cổ vật để nhằm xác định chủ quyền thuộc về Trung Quốc nhưng trái lại, những gì tìm được càng chứng minh đây là đảo của nước Việt Nam.

Nghiên cứu dày công, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu trích dẫn về những chuyến vượt biển của thái giám Trịnh Hoà đầu thế kỷ 15 và tiếp đó là ghi chép rời rạc của nhà hàng hải Bồ Đào Nha Vasco De Gama (1469 – 1524), những bản đồ biển Đông của người Bồ Đào Nha về sau đều cho thấy Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Có thể thấy rằng, chứng cứ lập luận chứng minh hai đảo này thuộc về người Trung Quốc rất yếu, thiếu cơ sở khoa học (kẻ mạnh thì không cần đến sự thuyết phục của những lập luận, lẽ phải!?) Những tranh chấp “va chạm” xoay quanh vấn đề lãnh hải, đảo của Trung Quốc với các nước láng giềng trên biển Đông không chỉ diễn ra với

Việt Nam mà còn với các nước lân cận: Philippines, Malaysia, Indonesia…

Nhìn lại những mốc sự kiện sẽ dễ dàng thấy rằng, biến động chính trị, lịch sử Việt Nam hiện đại ít nhiều “tạo điều kiện” để Trung Quốc vói tay ôm hai quần đảo này về phía mình. Sự kiện trung tuần tháng giêng 1974 là một ví dụ rõ ràng nhất.

Cuốn sách đưa ra được bối cảnh và cục diện tranh chấp khá cụ thể từ đó đứng trên cơ sở luật pháp quốc tế, ông Từ Đặng Minh Thu (tiến sĩ luật, đại học Sorbonne) và tiến sĩ Vũ Quang Việt (nguyên chuyên viên thống kê Liên hiệp quốc) phân tích cho thấy việc đưa vấn đề tranh chấp Trường Sa - Hoàng Sa vừa qua ra toà án quốc tế và tác động đến dư luận thế giới là việc cần làm sớm vì để lâu sẽ ảnh hưởng đến hoà bình Đông Nam Á và toàn cầu.

Cuốn sách còn có ba phần phụ lục ghi chép biên niên về hành động của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa, tuyên bố về ứng xử các bên ở biển nam Trung Hoa và bài phỏng vấn ông Vũ Dũng (thứ trưởng bộ Ngoại giao Việt Nam) về vấn đề biên giới lãnh thổ. Bài phỏng vấn cung cấp nhiều thông tin về những “vùng nóng biên giới” khác như thác Bản Giốc và các tỉnh biên giới phía Bắc, giáp Trung Quốc.

Một cuốn sách hơi mỏng, nhưng nghiêm túc và có thái độ, trách nhiệm của những nhà nghiên cứu; rất cần đọc đối với những người quan tâm đến vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa bằng chiều sâu, sự hiểu biết chứ không dừng lại ở bề nổi của tính sự kiện và những xúc cảm nhất thời. Cuốn sách này cần dịch in song ngữ hoặc dịch ra tiếng Anh, tiếng Trung Quốc để “giải quyết” tốt hơn vấn đề chính mà nó đề cập trong bối cảnh hiện thời.

Nguyễn Vĩnh Nguyên




100 magnify
HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM






Tác giả:
Nguyễn Nhã -Từ Đặng Minh Thu- Lê Minh Nghĩa….

Biên tập theo sách “Hoàng Sa,Trường Sa là của Việt Nam” của NXB Trẻ






Lời nói đầu:





Nội dung cuốn sách là tập hợp một số bài nghiên cứu, bài báo và những tư liệu mới của các nhà sử học và các nhà nghiên cứu, chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, xét về mặt lịch sử và luật pháp quốc tế. Cuốn sách cũng đề cập tới bối cảnh của cuộc tranh chấp hiện nay đối với hai quần đảo này nói riêng và Biển Đông nói chung, cũng như những ý kiến về một giải pháp cho cuộc tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế. Kèm theo đó là những tư liệu liên quan….

Trong bản lần này,chúng tôi dựa trên nền các bài viết được tập hợp trong quyển sách “Hoàng sa-Trường sa là của Việt Nam”,tuy nhiên do một số bài viết chúng tôi không tìm được trên mạng nên đành phải thay thế bằng các bài viết khác.Vì vậy quyển sách này không hoàn toàn giống quyển sách của NXB Trẻ đã phát hành.

Chúng tôi mong được nhận xét,góp ý của các bạn độc giả để trong thời gian tới có thể ra mắt bản đầy đủ,phong phú và có tính chọn lọc hơn nữa.






MỤC LỤC




PHẦN I: CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA – CƠ SỞ LỊCH SỬ VÀ PHÁP LÝ QUỐC TẾ

Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam
Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã




Việc thực thi chủ quyền tại Trường Sa và Hoàng Sa dưới triều Nguyễn
Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã




Sự thành lập và hoạt động của đội Hoàng Sa từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX
Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã




Sự nhầm lẫn có chủ ý về Hiệp ước Pháp-Thanh 1887
Tiến sĩ Từ Đặng Minh Thu





PHẦN II: BỐI CẢNH VÀ GIẢI PHÁP CHO TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG

Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam và các nước láng giềng
Lê Minh Nghĩa
Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc
Tiến sĩ Luật Từ Đặng Minh Thu, Đại học Sorbonne




Cần đưa vấn đề ra Tòa án Công lý Quốc tế
Tiến sĩ Vũ Quang Việt






PHẦN III: THƯƠNG LẮM HOÀNG SA-TRƯỜNG SA

Thương lắm Hoàng Sa
Blog Hoàng Sa




Tại sao Hoàng Sa?
Blog Klu




Hoàng Sa - tâm sự người trong cuộc
Bùi Thanh




Đứng trước Tổ quốc
Báo Du Lịch
Bắt đầu từ tọa độ nước Việt
Báo Hoa Học Trò





PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Hành động của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa (biên niên)
Phụ lục 2: Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng
Phụ lục 3: Biên giới lãnh thổ là thiêng liêng Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Vũ Dũng trả lời phỏng vấn báo chí

Nguồn: http://hoangsa.org/diendan/index.php

Download




http://hoangsa.org/tailieu/HS-TSlacu...a_org_book.pdf

Biểu tình và tấn công website Trung Quốc..

Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam!


Marketing Management


Tác phẩm kinh điển Marketing Management (ấn hành lần đầu năm 1967) của “tiên sinh” Kotler (76 tuổi) đến nay tiếp tục tái bản lần 12, và nhiều tác phẩm nghiên cứu khác, trong đó có Marketing insights from A to Z, đều được xem là cẩm nang gối đầu giường cho nhiều thế hệ doanh nhân.






Giá Bán Trên Amazon.com là $142.9


Download Sách Tại Đây
Hoặc
(Nếu link die vui lòng thông báo cho tôi biêt)


Phillip Kotler



Trên website Trường quản trị Kellogg (thuộc Đại học Northwestern, Mỹ) - nơi ông làm việc, tiểu sử Philip Kotler được giới thiệu như sau: Tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế Đại học Chicago và tiến sĩ kinh tế Viện công nghệ Massachusetts (MIT), Philip Kotler sau đó làm luận án sau tiến sĩ tại Đại học Harvard và hành vi học tại Đại học Chicago. Say mê và đào sâu đến tận cùng môn tiếp thị, Kotler viết nhiều công trình nghiên cứu đề tài liên quan (Principles of marketing; Marketing models; Strategic marketing for non-profit organizations; The new competition; High visibility; Social marketing; Marketing places; Marketing for congregations; Marketing for hospitality and tourism; The marketing of nations; Kotler on marketing…); và là người đầu tiên nhận giải nhà giáo dục tiếp thị xuất sắc (1985) của Hiệp hội Tiếp thị Hoa Kỳ (AMA).Trước đó 10 năm, thành viên Viện hàn lâm thuộc AMA từng chọn ông là “chuyên gia hàng đầu về lý thuyết tiếp thị” (năm 2002, ông lại nhận được danh hiệu nhà giáo dục tiếp thị xuất sắc từ AMA). Ông được xếp vị trí thứ bảy (2006) trong danh sách 50 tư tưởng gia thời đại do Suntop Media cùng Tổ chức Phát triển quản trị châu Âu thực hiện hằng năm; và tờ Financial Times xếp Kotler vị trí thứ tư trong danh sách các bậc thầy tiếp thị xuất sắc nhất mọi thời đại.Đặc biệt, ông cũng là người đi tiên phong trong việc phổ biến khái niệm “marketing xã hội” (social marketing) và trách nhiệm xã hội của marketing. Những tư tưởng này của ông có ảnh hưởng rất sâu rộng đến giới kinh doanh trên toàn thế giới trong suốt nhiều thập niên. Qua đó cũng đã góp phần xây dựng một nền kinh doanh nhân bản hơn và kiến tạo một xã hội toàn cầu tốt đẹp hơn.




Buổi thuyết trình của Philip Kotler

http://rapidshare.com/files/104209223/Buoi_Thuyet_Trinh_Philip_Kotler.rar
or:
http://www.box.net/shared/npqa6p6gwg
http://www.beehost.vn/customers/down...laycat&catid=4
or:
http://www.beehost.vn/customers/dl.php?type=d&id=29
Pass giải nén:www.beehost.vn






Kiến Thức Kinh Tế | Ebook Kinh Tế
|-- Ecommerce
|-- Kinh nghiệm
|-- Marketing
|-- Quản lý
|-- Business plan
|-- Tài liệu
|-- Stock - Finance
|-- Lý thuyết

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2008

Chủ nghĩa xã hội đi về đâu?



Các Bài giảng Wicksell

Năm 1958 Hội Bài giảng Wicksell [The Wicksell Lecture Society], với sự hợp tác của Viện Khoa học Xã hội thuộc Đại học Stockholm [the Social Science Institute of Stockhol University], Trường Kinh tế học Stockholm [the Stockholm School of Economics], và Hội Kinh tế Thuỵ Điển [Swedish Economic Association], đã khai trương loạt các bài giảng để tôn vinh và tưởng nhớ Knut Wicksell (1851-1926). Đến 1975 các bài giảng được trình bày hàng năm. Sau một thời kì tạm dừng loạt bài giảng lại được Hội Kinh tế Thuỵ Điển khai trương lại năm 1979. Bắt đầu với các bài giảng 1982, một tập các bài giảng được trình bày hai năm một.

Joseph E. Stiglitz

Lời giới thiệu của người dịch

Quyển sách này là quyển thứ 6 của tủ sách SOS2 do chúng tôi chọn và dịch ra tiếng Việt. Nó được Joseph Stiglitz viết hơn mười năm trước, vào những năm đầu của thời kì chuyển đổi, và được xuất bản đầu tiên năm 1994. Ông là người có công chính trong phát triển kinh tế học thông tin, và vì những cống hiến đó ông đã được giải Nobel kinh tế năm 2001. Trong cuốn sách này ông dùng những kết quả nghiên cứu của mình và của các cộng sự về kinh tế học thông tin để làm rõ hơn những vấn đề tranh luận lâu đời về các mô hình kinh tế, các hệ thống kinh tế, và trên cơ sở đó đưa ra những gợi ý chính sách cho các nền kinh tế chuyển đổi hậu xã hội chủ nghĩa.

Ông phê phán các lí thuyết kinh tế tân cổ điển, mô hình xã hội chủ nghĩa thị trường và mô hình thị trường cạnh tranh truyền thống dựa trên lí thuyết đó, làm rõ hơn những điểm mạnh điểm yếu của các hệ thống kinh tế. Ông gợi ý những chính sách kinh tế cho các nền kinh tế chuyển đổi.

Phê phán và đánh giá của ông khá cân bằng và khách quan trên cơ sở những kết quả mới nhất trong nghiên cứu kinh tế. Độc giả của tủ sách SOS2 sẽ thấy cuốn sách này rất lí thú, nhất là sau khi đã đọc các cuốn sách khác của tủ sách, đặc biệt là hai cuốn đầu của Kornai.

Joseph Stiglitz đã từng là cố vấn kinh tế của tổng thống Clinton, là Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế giới. Ông đã thường xuyên thảo luận các vấn đề kinh tế chuyển đổi với các học giả và quan chức Trung Quốc và các nước Đông Âu từ đầu những năm 1980, và cho các nhà hoạch định chính sách những lời khuyên bổ ích. Việt Nam đã bắt đầu công cuộc chuyển đổi hơn mười lăm năm nay. Từ giữa các năm 1990 Ông đã vài lần đến Việt Nam; Chính phủ Việt Nam dường như đánh giá cao những lời khuyên của Ông.

Với các độc giả Việt Nam cuốn sách vẫn có nhiều ý nghĩa sâu sắc. Nó không chỉ mang đến cho chúng ta những suy ngẫm sâu xa liên quan đến nội dung các cuộc tranh luận lâu đời về các mô hình kinh tế, những vấn đề học thuật uyên thâm, mà còn mang tính thời sự nóng hổi cho công cuộc đổi mới đất nước. Trước hết nó, cũng như cuốn “Hệ thống Xã hội chủ nghĩa” của Kornai, giúp chúng ta hiểu rõ hơn lịch sử kinh tế của mình trong hơn nửa thế kỉ qua, hiểu rõ hơn những vấn đề hiện tại, và hi vọng góp phần quan trọng trong định ra các bước đi thích hợp trước mắt và lâu dài.

Cuốn sách không chỉ bổ ích cho các học giả, các nhà hoạch định chính sách, mà cũng rất bổ ích cho các nhà doanh nghiệp, các nhà báo, sinh viên và những người quan tâm khác.

Tuy bàn luận về những vấn đề lí thuyết sâu xa, song cuốn sách không dùng đến những kiến thức toán học cao siêu, nên có thể dễ đọc hơn với quảng đại bạn đọc. Tuy vậy, đây là cuốn sách chuyên khảo, cần phải có những hiểu biết nhất định mới có thể hiểu được. Có một vài thuật ngữ toán (kinh tế) có thể lạ tai đối với một số bạn đọc (thí dụ như tính lồi [convexity], tính không lồi [nonconvexity], tuyến tính [linearity], phi tuyến [nonlinearity], v.v) bạn đọc nên xem lại các khái niệm toán sơ cấp hay cao cấp liên quan. Có một vài thuật ngữ kinh tế, như rent [tiền thuê, tô] đôi khi được dịch nhất quán là “đặc lợi” cho phù hợp với rents seeking [tìm kiếm đặc lợi]; hoặc polyarchy [(đa?) thứ bậc] lại được dùng nhất quán là phi thứ bậc để đối lập với hiearchy [hệ thống thứ bậc], có thể gây khó chịu cho một số độc giả. Tất cả những điểm như vậy đều có đánh dấu sao (*) ở các chỗ thích hợp. Mọi chú thích đánh số đều là của tác giả, các chú thích đánh dấu sao (*) là của người dịch. Để tránh những khó khăn trên, và giúp việc nghiên cứu được thuận tiện phần chỉ mục [index] tỉ mỉ về các khái niệm, dẫn chiếu chúng tôi kèm cả thuật ngữ tiếng Anh để tiện dùng.

Do hiểu biết có hạn của người dịch, bản dịch chắc còn nhiều sai sót, mong bạn đọc lượng thứ và chỉ bảo. Mọi góp ý xin gửi về Tạp chí Tin Học và Đời Sống 25/B17 Hoàng Ngọc Phách [Nam Thành Công] Hà Nội, thds@hn.vnn.vn, hoặc nqa@netnam.vn.

Hà nội 11-2003
Nguyễn Quang A

ĐỌC TOÀN VĂN

Tham khảo thêm

Mô hình Kornai về các hệ thống kinh tế



Bài học chuyển đổi ở Đông Âu

Phân chia trước năm 1989 giữa "Tây" (màu xám) và "Khối Đông" (màu cam) chồng lên biên giới hiện thời: Nga (màu cam xẫm), các quốc gia khác xưa kia thuộc Liên Xô (màu cam trung bình), các thành viên của Khối Warszawa (màu cam lợt), và những chính thể cựu cộng sản khác không liên kết với Moskva (màu cam lợt nhất).
Phân chia trước năm 1989 giữa "Tây" (màu xám) và "Khối Đông" (màu cam) chồng lên biên giới hiện thời: Nga (màu cam xẫm), các quốc gia khác xưa kia thuộc Liên Xô (màu cam trung bình), các thành viên của Khối Warszawa (màu cam lợt), và những chính thể cựu cộng sản khác không liên kết với Moskva (màu cam lợt nhất).

Lời giới thiệu

Bạn đọc cầm trên tay cuốn thứ mười sáu [1] của tủ sách SOS2, cuốn B� i học Chuyển đổi ở Đông Âu gồm 6 tiểu luận của Kornai János. Đây là cuốn sách thứ năm của Kornai trong tủ sách này và là cuốn thứ sáu của Kornai bằng tiếng Việt. Đây là các bài viết của Kornai đánh giá về chuyển đổi hậu xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, nêu những b� i học có thể rút ra trong 15 năm phát triển vừa qua của khu vực này. Nhiều bài học của khu vực đó cũng rất bổ ích cho nền kinh tế chuyển đổi của chúng ta.

Mở đầu là bài trình bày của ông tại Hà Nội khi ông thăm Việt Nam lần đầu tiên tháng 3-2001. Ông nêu ra 10 bài học ở đây.

Tiếp đến là bà i viết của ông giới thiệu những kết quả của dự án nghiên cứu quốc tế về “Tính trung thực và niềm tin” được tiến h� nh tại Collegium Budapest đầu các năm 2000 và tuyển tập những nghiên cứu nà y được xuất bản năm 2004.

Bài thứ ba là một bài báo phân tích về sự thay đổi hệ thống từ chủ nghĩa xã hội sang chủ nghĩa tư bản có nghĩa là gì và không có nghĩa là gì, được công bố năm 2000, dựa trên một cuốn sách nhỏ của ông in năm 1998 tại Anh.

Bà i thứ tư là bà i phát biểu của ông với tư cách Chủ tịch Hội Kinh tế Thế giới, đọc tại Đại hội năm 2005 ở Maroc.

Bà i thứ năm bàn về những cải cách điều chỉnh do chính phủ Hungary đưa ra tháng 6-2006, bàn về điều chỉnh, cân bằng và tăng trưởng. Tuy nói về tình hình Hungary nhưng chứa nhiều bài học phổ quát.

Bài cuối cùng là bài viết năm 1996 của ông đánh giá những biện pháp điều chỉnh lớn của Hungary đưa ra hơn một năm trước đó.

Lẽ ra có thể đưa cả bài đánh giá cuốn Con đường tới nền kinh tế tự do sau 10 năm nhìn lại vào tuyển tập này, song do đã được in như phần cuối của cuốn Con đường trong ấn bản tiếng Việt nên chúng tôi không đưa vào đây.

Có thể nói những bài học chuyển đổi của Đông Âu cũng có thể rất bổ ích với chúng ta. Chúng ta có thể học được những bà i học thành công và cả các bài học thất bại để tránh. Bất chấp sự khác biệt về lịch sử, về địa lí và văn hóa, nhưng do cùng có quá khứ kinh tế giống nhau, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nên các bài học là rất đáng suy nghĩ đối với chúng ta.

Tôi nghĩ cuốn sách rất bổ ích cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế học, các nh� nghiên cứu khoa học xã hội nói chung, các sinh viên và tất cả những ai quan tâm đến chuyển đổi hậu xã hội chủ nghĩa.

Người dịch đã cố hết sức để làm cho bản dịch được chính xác và dễ đọc, song do hiểu biết có hạn nên khó thể tránh khỏi sai sót.

Mọi chú thích cuối sách của tác giả được đánh bằng số. Các chú thích cuối trang được tác giả đánh dấu bằng số Ảrập. Tất cả các chú thích đánh sao (*) ở cuối trang là của người dịch. Bản dịch chắc còn nhiều thiếu sót mong bạn đọc thông cảm, lượng thứ, và chỉ bảo; xin liên hệ theo địa chỉ Tạp chí Tin học và Đời sống, 66 Kim Mã Thượng Hà Nội, hoặc qua điện thư thds@hn.vnn.vn hay nqa@netnam.vn

08-2006
Nguyễn Quang A

Toàn văn

Chủ nghĩa cộng sản




Lời nói đầu


Đây là cuốn sách nhập môn và đồng thời cũng là lời ai điếu cho chủ nghĩa cộng sản. Vì rõ ràng rằng nếu một lúc nào đó trong tương lai, việc tìm kiếm một sự bình đẳng hoàn toàn, một tư tưởng từ thời cổ đại đã thúc đẩy các chiến sĩ đấu tranh vì chủ nghĩa cộng sản không tưởng, có được tái tục thì cơ sở của những sự tìm kiếm như thế sẽ không phải là chủ nghĩa Marx-Lenin nữa. Chủ nghĩa này đã không còn một chút hấp dẫn nào, ngay cả những người cộng sản thời hậu Xôviết ở Nga cũng như tại nhiều nước khác, trong các chiến dịch tranh cử, đã phải thay nó bằng cương lĩnh dân chủ xã hội pha trộn thêm màu sắc dân tộc chủ nghĩa. Vì thế hôm nay chúng ta đã có đủ điều kiện lập bảng tổng kết cái phong trào đã từng giữ thế thượng phong trong suốt thế kỉ XX và xác định xem liệu sự sụp đổ của nó có phải là hậu quả của những sai lầm của một số người nào đó hay đây là kết quả của những khiếm khuyết trong chính bản chất của nó.

Từ chủ nghĩa cộng sản xuất hiện ở Paris vào năm 1840, liên quan đến ba khái niệm khác nhau nhưng gắn bó mật thiết với nhau: lí tưởng, cương lĩnh hành động và chế độ nhận lãnh trách nhiệm biến lí tưởng thành hiện thực.

Lí tưởng bình đẳng tuyệt đối (thí dụ trong một số trước tác của Platon) đòi hỏi cá nhân phải tan biến vào tập thể. Vì bất bình đẳng về mặt xã hội và kinh tế có nguyên nhân chủ yếu từ sự bất bình đẳng về tài sản, muốn bình đẳng thì từng người phải từ bỏ “của tôi” và “của anh”, nói cách khác từ bỏ tư hữu. Lí tưởng này có nguồn gốc lịch sử lâu đời và thỉnh thoảng lại tái xuất hiện trong lịch sử tư tưởng phương Tây, kể từ thế kỉ thứ VII trước công nguyên cho đến tận ngày nay.

Cương lĩnh cộng sản xuất hiện vào khoảng giữa thế kỉ XIX và gắn bó trước hết với tên tuổi của Karl Marx và Friedrich Engels. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848, Marx và Engels viết: “những người cộng sản có thể tuyên bố học thuyết của mình bằng một câu thôi: bãi bỏ tư hữu”. Engels khẳng định rằng bạn ông đã đưa ra một lí thuyết khoa học chứng minh tính tất yếu của sự cáo chung của những xã hội dựa trên khác biệt về mặt giai cấp.

Mặc dù trong lịch sử loài người lí tưởng cộng sản cũng đã đôi ba lần được đưa ra thực hiện, nhưng sử dụng toàn bộ sức mạnh của nhà nước cho một thí nghiệm như thế chỉ mới được thực hiện lần đầu tiên ở nước Nga từ năm 1917 đến năm 1991. Vladimir Lenin, người sáng lập chế độ đó, cho rằng đấy là một xã hội bình đẳng, không còn tư hữu, sinh ra nhờ chuyên chính vô sản, một nền chuyên chính gánh trên vai trách nhiệm bãi bỏ tư hữu và đặt nền móng cho con đường tiến lên chủ nghĩa cộng sản.

Chúng ta sẽ theo dõi chủ nghĩa cộng sản theo đúng trình tự như thế vì như thế là hợp lôgích và vì chủ nghĩa này cũng xuất hiện theo trình tự: đầu tiên là lí tưởng, sau đó là kế hoạch thực hiện và cuối cùng là biến lí thuyết thành hiện thực. Nhưng chúng ta sẽ quan tâm chủ yếu đến việc thực hiện bởi vì tự bản thân lí tưởng và cương lĩnh là những thứ vô hại, trong khi việc thực hiện chúng, nếu lại sử dụng toàn bộ sức mạnh của nhà nước, có thể dẫn tới những hậu quả không thể lường được.


Bản tiếng việt
Bản tiếng Nga

Thứ Ba, 25 tháng 3, 2008

Con Đường Dẫn Tới Chế Độ Nông Nô - Hayek


Friedrich von HayekFriedrich August von Hayek (8 tháng 5 năm 1899 – 23 tháng 3 năm 1992) là một nhà kinh tế học và nhà khoa học chính trị người Anh gốc Áo nổi tiếng.

Hayek được biết đến qua lập luận ủng hộ cho chủ nghĩa tư bản trên thị trường tự do để chống lại các tư tưởng xã hội chủ nghĩa đang phát triển trong thế kỷ 20. Ông và người đối nghịch tư tưởng là Gunnar Myrdal đã nhận giải Nobel Kinh tế trong năm 1974.

Tiểu sử

Hayek sinh tại Wien trong một gia đình trí thức có tiếng. Tại Đại học Wien, nơi ông nhận các bằng tiến sĩ trong năm 1921 và 1923, ông đã học luật, tâm lý và kinh tế. Tuy lúc ban đầu có đồng tình với chủ nghĩa xã hội, lối suy nghĩ về kinh tế của ông đã thay đổi trong những năm còn là sinh viên khi ông tiếp cận với những tác phẩm của Ludwig von Mises.

Hayek đã làm phụ tá nghiên cứu cho Giáo sư Jeremiah Jenks tại Đại học New York từ 1923 đến 1924. Sau đó ông là giám đốc của Viện Nghiên cứu Kinh tế Áo trước khi dạy tại Trường Kinh tế Luân Đôn trong năm 1931. Không muốn trở về nước sau khi Áo sát nhập vào nước Đức Quốc Xã, ông trở thành một công dân Anh năm 1938.

Trong đầu thập kỷ 1940, Hayek trở thành một nhà lý luận kinh tế hàng đầu. Sau khi Đệ nhị thế chiến kết thúc, các học thuyết laissez-faire mà ông đề xướng không được John Maynard Keynes và một số nhà kinh tế học khác thừa nhận, những người chủ trương nhà nước phải can thiệp chủ động vào kinh tế quốc gia. Cuộc tranh cãi giữa 2 trường phái cho đến nay vẫn chưa kết thúc mặc dầu quan điểm của Hayek được chấp nhận nhiều hơn từ cuối thập niên 1970. Sau khi không được một trường kinh tế của một trường đại học nổi tiếng nào nhận làm, ông trở thành giáo sư trong Ủy ban Tư tưởng Xã hội tại Đại học Chicago. Ông làm việc tại đó từ 1950 đến 1962. Từ 1962 cho đến khi ông về hưu trong 1968, ông làm giáo sư tại Đại học Tổng hợp Albert-Ludwig Freiburg. Sau đó ông là một giáo sư danh dự (honorary professor) tại Đại học Tổng hợp Paris-Lodron Salzburg. Ông qua đời năm 1992 tại Freiburg, Đức.

Sự Nghiệp

Chu kỳ kinh doanh
Các tác phẩm của Hayek về tư bản, tiền và chu kỳ kinh doanh được xem là những đóng góp đến môn kinh tế quan trọng nhất của ông. Trước đây Ludwig von Mises đã giải thích lý thuyết về tiền tệ và ngân hàng trong quyển Theorie des Geldes und der Umlaufsmittel (Lý thuyết về tiền và tín dụng) (1912).

Vấn đề tính toán kinh tế

Hayek là một trong những người chỉ trích hàng đầu của chủ nghĩa xã hội trong thế kỷ 20. Trong quyển sách được nhiều người đọc Con đường dẫn tới chế độ nông nô (The Road to Serfdom, 1944) và nhiều tác phẩm sau, Hayek đã tuyên bố rằng chủ nghĩa xã hội có khả năng dẫn đến chế độ cực quyền cao, vì các kế hoạch trung ương không chỉ hạn chế trong nền kinh tế mà còn ảnh hưởng đến đời sống xã hội. Hayek còn cho rằng trong các nền kinh tế được lập kế hoạch ở trung ương, một cá nhân hay một nhóm cá nhân phải định đoạt sự phân chia nguồn lực, nhưng những nhà kế hoạch không bao giờ có đủ thông tin để phân chia chính xác được.


Ảnh hưởng

Ông được đánh giá là người có ảnh hưởng sâu sắc lên các thế hệ kế tiếp nhau của các nhà trí thức và chính trị gia, đặc biệt là qua tác phẩm Con đường dẫn tới chế độ nông nô. Cuốn sách đã đem lại cảm hứng đồng thời gây tức giận dữ dội cho rất nhiều trí thức, học giả, chính trị gia trong suốt sáu mươi năm qua. Tuy nhiên, số người bị cuốn sách chọc tức ngày nay đã chẳng còn mấy.

Những bài viết của Hayek đặc biệt là tác phẩm Con đường dẫn tới chế độ nông nô là một nguồn trí tuệ quan trọng của sự tan rã của niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản. Khi xuất bản cuốn này, ông bị nhiều người xem là "phạm húy" khi gợi ý rằng chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản chỉ đơn thuần là hai biến thể của cùng chủ nghĩa chuyên chế mà ở đó tập trung mọi hoạt động kinh tế. Ngày nay, điều này trở thành hầu như bình thường.

Trong tác phẩm ông nêu lên sự khác biệt giữa kế hoạch hóa và dân chủ:

"Có một sự khác biệt căn bản giữa kế hoạch hóa chuyên chế và dân chủ. Kế hoạch hóa chuyên chế đặt mọi nguyện vọng và sở thích cá nhân xuống dưới yêu cầu của nhà nước. Để đạt mục đích này nó sử dụng các phương pháp khác nhau cưỡng bức cá nhân, tước đoạt quyền tự do lựa chọn của cá nhân".

Phê bình

Hầu như không quá khi nói rằng, thế kỷ XX là thế kỷ Hayek.
John Cassidy, The New Yorker, 07/02/2000
Hoàn toàn có thể là kinh tế học của thế kỷ 21 sẽ còn chịu ảnh hưởng của Hayek nhiều hơn kinh tế học của thế kỷ 20.
Bruce Caldwell, Chủ tịch Hội Nghiên cứu Lịch sử Kinh tế học (History of Economics Society), ngày 2 tháng 7, 2000"

Theo Wikipedia

dow load: http://ifile.it/2o64slz

Quyền lực của không quyền lực - Vaclav Havel

Đây là một cuốn sách thú vị cho những ai yeu thích tìm hiểu những gì diễn ra trên thế giơi ngày nay...